Xem Nhiều 12/2022 #️ Triển Vọng Nuôi Thương Phẩm Và Sản Xuất Giống Cá Lóc, Cá Rô Đầu Vuông / 2023 # Top 14 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 12/2022 # Triển Vọng Nuôi Thương Phẩm Và Sản Xuất Giống Cá Lóc, Cá Rô Đầu Vuông / 2023 # Top 14 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Triển Vọng Nuôi Thương Phẩm Và Sản Xuất Giống Cá Lóc, Cá Rô Đầu Vuông / 2023 mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cá lóc (cá chuối/ cá quả) và cá rô đầu vuông là hai loài cá tự nhiên, thịt thơm ngon được nhiều người ưa thích. Do môi trường sống ngày càng thu hẹp và bị khai thác quá mức khiến cho hai loài này ở ngoài tự nhiên càng trở nên khan hiếm, nhiều nơi có nguy cơ cạn kiệt.

Trước tình hình đó, năm 2010 Trung tâm Khuyến nông tỉnh, Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa đã xây dựng mô hình nuôi nhân tạo cá lóc, cá rô đầu vuông theo hướng thương phẩm.

Qua rất nhiều thất bại ban đầu tại các mô hình khảo nghiệm, các cơ quan chức năng nói trên, các nhà khoa học đã dần đúc rút được kinh nghiệm, ương nuôi thành công trên nhiều địa phương trong tỉnh. Sự thành công đó đã trở thành dự án khoa học cấp tỉnh của Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa và đã tạo ra một hình thức nuôi mới (trên bể xi-măng), cho hiệu quả kinh tế cao.

Riêng cá rô đầu vuông, năm 2010 được di nhập giống từ các tỉnh miền Tây Nam bộ để nuôi thử nghiệm. Năm 2011, Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã tổ chức sản xuất nhiều mô hình trình diễn tại xã Quảng Đại (Quảng Xương), Thiệu Tâm (Thiệu Hóa) với mật độ 15 con/m2, sử dụng thức ăn viên nổi. Kết quả bước đầu sau 4 tháng nuôi, cá rô đã đạt từ 80 đến 100g/con, năng suất cao nhất đạt 15 tấn/ha/vụ. Từ những thành công ban đầu, năm 2012, loại cá này đã được triển khai nuôi thâm canh trên diện rộng tại 6 huyện trong tỉnh, gồm: Nông Cống, Thạch Thành, Hà Trung, Thiệu Hóa, Như Thanh, Đông Sơn. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức, cá nhân, hộ nông dân trên toàn tỉnh đã tự đầu tư, nuôi cá thương phẩm (được Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa hỗ trợ các thông tin, tài liệu kỹ thuật). Qua các mô hình thâm canh tại 6 huyện nói trên, cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, trọng lượng cá đạt từ 80 đến 200g/con sau 1 lứa nuôi (từ 100 đến 123 ngày). Những lứa cá thu hoạch vào cuối năm 2012 âm lịch vừa qua, năng suất đạt 60 tấn/ha/vụ, trung bình toàn tỉnh đạt 30 tấn/ha/vụ. Hộ ông Lê Văn Lợi, xã Đông Quang (Đông Sơn) thả nuôi trên diện tích 450 m2, chi phí hết 1,2 tấn thức ăn công nghiệp và 500 kg lúa ủ mầm, thu được 1,3 tấn cá thương phẩm. Giá cá trung bình tại thời điểm xuất bán đạt 44.000 đồng/kg, sau khi trừ mọi chi phí, ông có lãi 27 triệu đồng/vụ nuôi. Gia đình anh Nguyễn Văn An (xã Hà Đông, huyện Hà Trung) thu được 1,2 tấn cá/400 m2 mặt nước ao nuôi. Theo tính toán của anh An, sau khi trừ chi phí còn lãi 24 triệu đồng. Tương tự, hộ ông Lê Minh Định, ở huyện Thạch Thành cũng có lãi trên 12 triệu đồng sau khi thu hoạch lứa cá tại ao nuôi rộng 600 m2.

Với giống cá lóc, hiện đã trở thành đối tượng nuôi quan trọng trên địa bàn tỉnh. Đây là giống cá dễ nuôi, nuôi được với mật độ cao, thời gian nuôi ngắn, chất lượng thịt ngon, cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường ưa thích. Hiện tại, năng suất cá lóc có thể đạt 20 tấn/ha với hình thức nuôi ao và trên 100 tấn/ha với hình thức nuôi bể. Đáng nói, có thể tận dụng các loài cá tạp từ khai thác trên biển làm thức ăn cho cá lóc nên chi phí nuôi rẻ, lãi cao. Hiện nay, đã có hàng trăm hộ nông dân trong tỉnh, đặc biệt là vùng ven biển thuộc các huyện, thị xã: Quảng Xương, Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Sầm Sơn, Nga Sơn đã nhân rộng mô hình nuôi cá lóc trên bể xi-măng. Nhiều hộ nuôi cá lóc đã trở thành điển hình làm kinh tế tại địa phương. Đơn cử như hộ các ông: Ngô Hữu Hòa, Nguyễn Văn Nghi, ở xã Quảng Cư (thị xã Sầm Sơn); hộ anh Cao Văn Thắng, ở xã Quảng Đại (Quảng Xương)… Tại các huyện Đông Sơn, Hà Trung, Triệu Sơn, Yên Định, Ngọc Lặc, Thiệu Hóa, Thạch Thành và TP Thanh Hóa, nhiều gia đình nuôi trong ao đất, cho hiệu quả kinh tế cao. Hiện tại, giá cá lóc xuất bán từ 42 đến 65.000 đồng/kg, người nuôi có lợi nhuận từ 30 đến 50% tổng chi phí.

Giai đoạn đầu, việc nuôi thương phẩm chưa mấy hiệu quả bởi giống cá trên phải di nhập từ miền Nam. Ngoài việc phải mua giống giá cao do chi phí vận chuyển, tỷ lệ cá sống sau thả rất thấp vì sự khác biệt khí hậu. Nhiều ao nuôi, bể nuôi, cá chỉ sống trên 10% khiến người nuôi có lãi ít. Việc sản xuất các giống cá nói trên ngay tại Thanh Hóa là rất cần thiết. Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa đã bắt tay vào khảo sát, kiểm tra thực địa về ao cho sinh sản, ao ương giống, nguồn nước, sau đó mời các chuyên gia từ Đại học Cần Thơ ra Thanh Hóa tư vấn, cùng nghiên cứu sản xuất giống. Sau nhiều thất bại, như: không đạt được con giống nào ở mô hình tại gia đình ông Nguyễn Bá Hoàn (xã Nga Hải, huyện Nga Sơn); tỷ lệ cá con chết cao tại các mô hình ở Tĩnh Gia, Quảng Xương… đã trở thành những bài học kinh nghiệm để các chuyên gia khắc phục trong quá trình sản xuất.

Qua thực tế, giống cá được sản xuất ngay tại Thanh Hóa có ưu thế hơn hẳn so với các giống di ương. Cá giống được sinh ra ngay tại tỉnh nhà có tỷ lệ sống cao, phát triển nhanh hơn, thời gian nuôi ngắn, ít dịch bệnh, tăng lợi nhuận. Ngay cả các trại chuyên sản xuất cá giống, giá trị kinh tế mang lại còn cao gấp nhiều lần nuôi thương phẩm, tạo ra nhiều việc làm cho lao động địa phương. Làm chủ được công nghệ sản xuất giống, nghề nuôi cá rô đầu vuông, cá lóc tại Thanh Hóa đang có nhiều triển vọng phát triển bền vững.

Quy Trình Nuôi Cá Rô Đầu Vuông Thương Phẩm / 2023

(Baonghean) – Cá rô đầu vuông là loài cá dễ nuôi, tốc độ tăng trưởng nhanh, thịt thơm ngon, mang lại hiệu quả kinh tế cao, phát triển mạnh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và miền Tây Nam bộ. Ở Nghệ An, mới đây, Chi cục Nuôi trồng thủy sản Nghệ An đã nuôi thử nghiệm thành công đối tượng này thông qua việc thực hiện Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng mô hình nuôi thương phẩm cá rô đầu vuông tại Nghệ An”. Dự án đã hoàn thiện quy trình nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm tại Nghệ An:

Cá rô đầu vuông tại thời điểm thu hoạch.

1. Chuẩn bị ao nuôi

– Điều kiện ao: Ao nuôi có diện tích 1.000 – 5.000m2, độ sâu 1,4 – 2m, bùn đáy 15 – 20cm, pH đất = 6,5 – 8, bờ ao được đắp vững chắc, có cống cấp và thoát nước chủ động.

– Cải tạo ao: Bơm cạn ao, vệ sinh xung quanh bờ ao, lấp hang hốc rò rỉ nước, trang đều nền đáy, bón vôi khử trùng, diệt tạp với lượng 7 – 12 kg/100m2, phơi đáy ao 2 – 3 ngày.

– Gây màu nước: Sau khi lấy nước vào ao gây màu: dùng 2 – 3 kg NPK/100m2 tạt đều xuống ao tạo nguồn thức ăn ban đầu là tảo và động vật phù du cho cá.

– Lấy nước: Nguồn nước trong sạch, không nhiễm bệnh, không bị ô nhiễm, nước lấy vào được lọc qua lưới tránh địch hại và cá tạp vào ao. Lấy 1,2 – 1,5m nước vào ao trước khi thả cá 2 – 3 ngày.

– Căng lưới chắn xung quanh bờ ao để tránh cá vượt ra ngoài

2. Thả giống

Chất lượng giống: Chọn cá thể khoẻ mạnh, không bị xây xát, dị hình, dị tật, bơi lội nhanh nhẹn, màu sắc tươi sáng, đồng đều, không mất nhớt và bơi thành đàn, chọn đúng giống cá rô đầu vuông. Cỡ cá thả: 300 – 350 con/kg. Mật độ: 20 – 40 con/m2. Trước khi thả cá giống phải tắm cho cá bằng muối 15 – 30‰ trong 15 – 30 phút.

3. Chăm sóc và quản lý

– Thức ăn: Dùng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 25 – 30%. Hệ số chuyển đổi thức ăn công nghiệp là 1,6-1,8. Định kỳ bổ sung thêm vitamin C, khoáng với hàm lượng 5g/1kg thức ăn trộn vào thức ăn, cho cá ăn để tăng sức đề kháng. Tỷ lệ cho cá ăn từ 2 – 4% trọng lượng thân, tùy theo trọng lượng và giai đoạn phát triển của cá. Cho cá ăn 2 lần/ngày vào 8 – 9h sáng và 4 – 5h chiều.

– Quản lý chất lượng nước: Trong quá trình nuôi cần thường xuyên theo dõi chất nước ổn định trong sạch. Khi màu nước nhạt cần bón phân vô cơ với lượng 1,5-3,0kg đạm và 0,8 – 1,5kg lân/1.000 m2, ao tuỳ vào màu nước để bón liều lượng phù hợp, bón vào lúc trời mát. Sau khi bón cần quan sát màu nước tránh bón nhiều làm nước bị ô nhiễm. Thay nước tạo dòng chảy thường xuyên cho ao nuôi tránh trường hợp nước bẩn, cá dễ bị nhiễm bệnh. Luôn duy trì độ trong khoảng 35cm. Thường xuyên kiểm tra pH khoảng 7 – 8. Nếu pH giảm dùng Zeolite để ổn định với lượng 7 – 10kg/1.000m2. Định kỳ 15 ngày/lần sử dụng vôi xử lý môi trường nước ao với lượng 2 – 2,5 kg/100 m2 ao.

4. Phòng và trị bệnh cho cá

Cá rô đầu vuông ít mắc bệnh. Tuy nhiên, một số bệnh thường gặp ở cá rô đầu vuông là bệnh sình bụng, đen thân, xuất huyết cấp tính, nấm thủy mi, lở loét. Nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh là do chế độ cho ăn không hợp lý, môi trường ao nuôi bị ô nhiễm hoặc do chất lượng thức ăn đang sử dụng không tốt.

Muốn phòng được các loại bệnh này cần phải điều chỉnh khẩu phần ăn, số lần cho ăn trong ngày sao cho phù hợp, duy trì chất lượng môi trường ao nuôi đảm bảo, định kỳ diệt khuẩn môi trường ao và đặc biệt bổ sung vitamin C.

Khi cá bị bệnh cần chẩn đoán đúng loại bệnh (nấm, ký sinh, giun, sán, vi khuẩn…) để sử dụng các loại thuốc đúng và hợp lý, điều trị kịp thời kết hợp với xử lý môi trường nước, hạn chế sự lây lan của mầm bệnh, tránh hiện tượng cá chết hàng loạt.

5. Thu hoạch và bảo quản cá

a. Thu hoạch

Để thu hoạch đạt hiệu quả cao và không ảnh hưởng đến chất lượng cá thương phẩm, thông thường áp dụng một số hình thức sau:

– Thu tỉa: Đối với cá rô đầu vuông thương phẩm càng lớn giá thành càng cao do đó có thể thu tỉa những con có kích cỡ lớn bán trước, con nhỏ tiếp tục để lại nuôi. Phương pháp thu tỉa có thể dùng lưới để thu cá.

– Thu tổng thể: Đối với những ao nuôi cá đạt kích cỡ lớn đồng đều tiến hành thu tổng thể. Trước khi thu ngừng cho cá ăn 1-2 ngày. Dùng lưới thu bớt cá trước khi bơm cạn nước 1 – 2 ngày. Bơm cạn triệt để nước ao tiếp tục thu hoạch.

b. Bảo quản sản phẩm

Cá rô đầu vuông sau khi thu hoạch phải bảo quản sống để tăng giá trị sản phẩm, do đó trước khi thu phải làm tốt công tác chuẩn bị cụ thể. Cần liên hệ, hẹn ngày giao hàng với cơ sở thu mua. Chuẩn bị dụng cụ và địa điểm để lưu cá trong quá trình thu hoạch đảm bảo nước trong sạch, có sục khí để tăng tỷ lệ sống sau thu hoạch và xuất bán tổng thể. Khi thu hoạch phải nhẹ nhàng tránh sây sát làm cá dễ bị chết và nhanh chóng đưa đến điểm lưu cá, với những con bị chết nhanh chóng rửa sạch và bảo quản lạnh.

Tạ Quang Sáng (Chi cục Nuôi trồng thủy sản Nghệ An)

Sản Xuất Giống Và Nuôi Thương Phẩm Cá Bớp, Cá Hồng Mỹ: Hiệu Quả Bước Đầu / 2023

Nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật (KH-CN) Khánh Hòa đã xây dựng thành công mô hình sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá bớp và cá hồng Mỹ, giúp nghề nuôi này phát triển bền vững.

Từ mô hình sản xuất giống

Thạc sĩ Nguyễn Khánh Nam, chủ nhiệm Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá bớp và cá hồng Mỹ tại tỉnh Khánh Hòa” cho biết, sau khi được Trường Đại học Nha Trang chuyển giao công nghệ, năm 2016, nhóm nghiên cứu đã xây dựng mô hình sản xuất giống nhân tạo 2 loại cá trên tại Trại thực nghiệm sản xuất giống hải sản, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH-CN Khánh Hòa ở xã Cam Phúc Nam, TP. Cam Ranh và Công ty TNHH Kiên Thường, xã Vĩnh Lương, TP. Nha Trang.

Thu hoạch cá bớp thương phẩm tại trại thực nghiệm.

Sau thời gian triển khai, từ 922.000 con ấu trùng cá bớp, dự án đã đưa vào ương nuôi được 93.200 con cá hương khỏe mạnh, tỷ lệ sống đạt bình quân 10,11%. Từ giai đoạn cá hương ương lên cá giống, dự án đã thu được 62.900 con cá bớp giống, kích cỡ từ 10 đến 15cm/con, tỷ lệ sống trung bình đạt 72,13%. Đối với cá hồng Mỹ, sau quá trình sản xuất, đơn vị thu được tổng cộng hơn 3 triệu con cá giống khỏe mạnh, kích cỡ từ 4 đến 8cm/con, tỷ lệ sống đạt 74,35%. Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, giá thành khoảng 1.100 đồng/con cá hồng Mỹ; khoảng 5.000 đồng/con cá bớp.

Các thành viên Hội đồng KH-CN đánh giá, ưu thế vượt trội của các mô hình dự án nói trên chính là độ ổn định và đồng đều về các chỉ tiêu kỹ thuật trong các đợt sản xuất giống, cũng như khả năng ứng dụng rộng rãi ở nhiều quy mô, diện tích. Đặc biệt, sản phẩm của dự án cung cấp cho thị trường những con giống đã được sàng lọc, tuyển chọn kỹ càng, đảm bảo hiệu quả tốt nhất cho người nuôi thương phẩm.

Thông qua dự án, 2 cơ sở sản xuất giống nói trên đã tiếp nhận và hoàn toàn làm chủ được quy trình công nghệ sản xuất giống cá bớp và cá hồng Mỹ. Hàng năm, các cơ sở có thể sản xuất được hơn 2 – 3 triệu con giống cá hồng Mỹ và khoảng 400.000 – 500.000 con giống cá bớp có chất lượng tốt. Ông Trần Văn Toàn – Quản lý kỹ thuật Công ty TNHH Kiên Thường cho biết, đàn cá giống nhân tạo sử dụng tốt các loại thức ăn công nghiệp đang có trên thị trường. Do vậy, khi nuôi giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường so với việc sử dụng thức ăn là cá tạp; đồng thời, cá giống khi cung cấp cho người nuôi thương phẩm tại địa phương sẽ ít bị dịch bệnh hơn so với cá nhập từ các tỉnh phía bắc vào do không bị ảnh hưởng bởi quá trình vận chuyển xa…

Đến nuôi thương phẩm

Cùng với sản xuất giống, nhóm nghiên cứu đã thực hiện được 2 mô hình nuôi thương phẩm cá bớp và cá hồng Mỹ, trong đó 1 mô hình nuôi trong hệ thống lồng gỗ truyền thống và 1 mô hình nuôi trong hệ thống lồng nhựa HDPE.

Đối với cá hồng Mỹ, mô hình nuôi trong lồng gỗ truyền thống, chu kỳ nuôi từ 8 đến 9 tháng, kích cỡ cá thương phẩm từ 1 đến 1,15kg/con, tổng sản lượng thu hoạch hơn 5.000kg, tỷ lệ sống trung bình toàn quá trình nuôi đạt 71,04%, năng suất đạt 10,49kg/m3 lồng nuôi. Mô hình nuôi trong lồng nhựa HDPE, chu kỳ nuôi 9 tháng, kích cỡ cá đạt 1,25kg/con, sản lượng thu hoạch được 6.500kg cá, tỷ lệ sống trung bình toàn quá trình đạt 76,04%, năng suất đạt 10,83kg cá/m3. Các mô hình nuôi hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp, tổng sản lượng cá thu được từ 2 mô hình 11.535kg, trong đó mô hình nuôi trong lồng nhựa đã thể hiện sự vượt trội so với nuôi trong lồng gỗ truyền thống.

Tương tự, cá bớp cũng được nhóm thực hiện dự án triển khai 2 mô hình nuôi trong lồng gỗ và lồng nhựa với chu kỳ nuôi từ 11 đến 12 tháng. Qua đó, tổng sản lượng thu được 13.321kg cá bớp. Trong đó, nuôi lồng gỗ tỷ lệ sống trung bình toàn quá trình đạt 70,54%, kích cỡ cá thương phẩm đạt 5,47kg/con sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn tươi; nuôi lồng nhựa, tỷ lệ sống toàn quá trình đạt 79,62%, kích cỡ cá đạt 5,35kg/con sử dụng thức ăn công nghiệp. Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, kết quả sản xuất của các mô hình nuôi thương phẩm thuộc dự án mang lại lợi nhuận tương đối cao. Cụ thể, mô hình nuôi cá bớp lợi nhuận đạt từ 183 đến 210 triệu đồng/mô hình; cá hồng Mỹ từ 105 đến 163 triệu đồng/mô hình.

Từ kết quả của dự án, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH-CN Khánh Hòa tổ chức tập huấn, đào tạo kỹ thuật về sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá bớp và cá hồng Mỹ cho 129 ngư dân, cán bộ kỹ thuật tại huyện Vạn Ninh, thị xã Ninh Hòa và TP. Cam Ranh. Ngoài ra, học viên còn được đi tham quan thực tế các mô hình, đặc biệt là mô hình nuôi thương phẩm bằng hệ thống lồng nhựa HDPE.

Theo ông Huỳnh Kỳ Hạnh – Giám đốc Sở KH-CN, các thành viên tham gia dự án đã tiếp nhận rất tốt công nghệ, làm chủ được quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm 2 đối tượng cá bớp và cá hồng Mỹ do Trường Đại học Nha Trang chuyển giao. Từ đó, triển khai ứng dụng thực tế đạt và vượt mục tiêu đề ra. Cá giống và thương phẩm sản xuất từ mô hình đều đảm bảo chất lượng. Kết quả của dự án là cơ sở khoa học để các trại sản xuất giống, doanh nghiệp, địa phương có thể ứng dụng vào sản xuất giống và nuôi thương phẩm nhằm phát triển bền vững các đối tượng nuôi.

KHÁNH HÀ

Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Cá Rô Đồng Thương Phẩm (Anabas Testudineus Bloch) / 2023

Giống cá rô đồng có ở tự nhiên lúc Bà Chằn (tháng 5-6) bắt được giống cá rô đồng ở trên ruộng, mương bị cạn khá nhiều. Nhưng do đánh bắt cá bị xây xát, mất nhớt, cá chết tạ chỗ và sau đó chết dài dài vì bệnh. Cá còn sống mang tính hoang dã của cha mẹ, nên khi có dòng nước chảy vào, cá thường đi theodòng nước hoặc gặp nơi sống không thích hợp cá cũng đi. Nguồn giống cá rô đồng tự nhiên không đều, thiếu chủ động cung cấp giống theo yêu cầu nuôi. Giống cá rô đồng sản xuất nhân tạo, qua nuôi đại trà ở nhiều nơi, tính hoang dã của cá giảm hẳn, có nơi chỉ rào lưới 0,5m và có nơi không rào và cho cá ăn tốt cá cũng không đi.

1. Chuẩn bị cá cha mẹ

– Ao mương nuôi vỗ cá cha mẹ có diện tích từ 50 – 500 (m2), sâu 1m, được chuẩn bị từ tháng 11-1. Cá cha mẹ được nuôi dưỡng sớm, chăm sóc tốt, cá có thể đẻ sớm hơn thời vụ tự nhiên vào tháng 2-3dl và tháng 4-5 có cá giống cung cấp cho yêu cầu nuôi nữa và cuối năm đạt cỡ cá thương phẩm.

– Chọn cá cha mẹ cỡ từ 40 – 100g/con, cá không bị xây xát, dị hình, cá khỏe mạnh, nuôi chung cá đực cái mật độ 1kg cá/2 m2 ao .

– Cho cá ăn hàng ngày: cám 60%, bột cá 38% và bột gòn 2% làm chất kết dính. Nấu bột cá, bột lá gòn xong trộn cám vào vừa đặc cho cá ăn. Có thể cho cá ăn một phần lúa mộng. Ngày cho ăn 3-5% so với trọng lượng thân cá, cá tái phát dục ăn 7%.

– 15 ngày kích thích bằng nước một lần, mỗi lần 1/3 ao. – 30 ngày kiểm tra độ thành thục của cá, 15 ngày kiểm tra cho cá đẻ; cá đực có bụng thon, khi vuốt nhẹ bụng có sẹ trắng sữa. Cá cái bụng to, mềm đều, lỗ sinh dục màu hồng. Cỡ cá 21-30g có 2.900 – 15.000 trứng, 1kg cá cái có 30-40 vạn trứng, tỷ lệ thụ tinh và nở trên 90%.

2. Sản xuất cá giống.

a/ Sản xuất giống cá rô đồng tại ao:

– Ao được cải tạo và diệt tạp tốt, cho nước vào ao 0,5m, bón phân chuồng để tạo thức ăn tại chỗ cho cá, nước có màu xanh lá chuối non.

– Cá cha mẹ có trứng và sẹ tốt, bắt từng cặp cá thả vào ao, mật độ cá thả 5-10 m2 ao. Dâng nước lên 1m, cá rô được nước mới kích thích đẻ trong ao. Hàng ngày cho cá ăn cám, tấm, ốc nghiền nhỏ, bột cá nấu, phân heo, … như phần ương cá. Sản xuất giống cá rô đồng tại ao, tại hộ gia đình cũng cung cấp được lượng giống cá rô đồng đáng kể cho yêu cầu nuôi. Có hộ ao 500 m2 thả trên 1,5kg cá rô đồng cha mẹ cũng được 800kg cá rô thịt.

b/ Sản xuất giống cá rô đồng nhân tạo:

* Cho cá đẻ:

– cá rô đồng cha mẹ, đực cái bắt nhốt trước 2 giờ tiêm, chọn cá đã thành thục sinh dục.

– Tiêm HCG liều 3.000 – 4.000 UI/kg hoặc LHRa 20 – 30mg/kg cá cái, cá đực tiêm nửa liều cá cái. tiêm vào lưng hoặc gốc xoang ngực.

– Cho cá đẻ: Xô, chậu, thau, lu, khạp có đường kính rộng 40 – 50cm trở lên, cho nước sach vào 10 – 12cm, bắt từng cặp cá cho vào, hoặc ở bể 3-4kg cá / m3 nước. Thời gian hiệu ứng thuốc sau khi tiêm 7-16 giờ cá đẻ, cá đẻ trứng ra nở 16-22 giờ tùy nhiệt độ.

* Ấp trứng cá:

– Trứng cá rô đồng mới đẻ có đường kính 0,4-0,8mm, trứng trương nước 0,8-1,1mm, trứng nổi tự do.

– Ấp trứng ở xô, thau, chậu có nước sâu 20-30cm, mật độ trứng ấp 3.000 trứng/lít nước , nước tĩnh, thay nước ngày 2 lần, thường xuyên vớt bỏ trứng ung ra.

– Sau 60 giờ trứng nở, chuyển cá bột xuống ao ương.

* Ương cá bột lên cá giống:

– Ao mương ương cá giống được dọn sạch cây cỏ, sên vét bớt sình bùn, xảm các hang mội, bón vôi 10kg/100 m2 ao, diệt các địch hại của cá như phần cải tạo ao ương cá khác. Phơi nắng ao 2-3 ngày, cho nước vào ao qua lưới lọc kỹ, lưới thật dầy, có thể dùng vải KT.

– Bón phân gà, heo đã ủ 10-15g/100 m2 ao hoặc dùng phân vô cơ: đạm và lân superphosphat theo tỷ lệ N/P = 2/1 với lượng 200g m3 nước (nên dùng phân hữu cơ thì màu nước giữ lâu hơn). Bón lót 3 ngày trước khi thả cá ương. Cần kiểm tra nước ao, nếu có địch hại của cá phải được diệt trước khi thả, nếu có bọ gạo phải dùng dầu hỏa có khu và treo đèn ở ao. Cá bột được thả khi nước ao có màu xanh lá chuối non, sao đó 5-10 ngày bón phân một lần tùy màu nước.

– Mật độ cá ương 4-6 vạn cá bột /100 (m2 ) ao, cá bột phải đều cỡ, thời gian ương 45 ngày, cỡ cá đạt 300-400con/kg, tỷ lệ sống ương tốt trên 50%.

– Thức ăn cho cá: Mười ngày đầu cho ăn lòng đỏ trứng vịt luộc tán nhuyễn và bột đậu nành pha lãong nấu chín, số lượng một trứng vịt và 10g bột đậu nành cho 1-2 vạn cá bột/ngày. Ngày cho ăn 4 lần. Sau đó cho cá ăn cám 30%, bột đậu nành 30%, bột cá 40%. Khẩu phần thức ăn, khởi điểm cho ăn 100g/vạn cá/ngày, sau đó tùy khả năng bắt mồi của cá mà tăng hoặc giảm khẩu phần cho ăn, nhưng khi cá có cơ quan hô hấp phụ (20 ngày ương) nên tăng lượng thức ăn và phân bón nước ao có màu xanh lá chuối non. Do cá rô đồng bột giống ăn thức ăn lơ lửng trong nước là chủ yếu, nên thức ăn nấu chín và hòa tan vào trong nước và rải đều trên mặt ao.

– Thời gian ương cá cần diệt bọ gạo, không để ếch nhài, nòng nọc và các động vật khác vào ăn cá con.

– Cấp thêm nước vào ao khi nước ao hao hụt, nước ao dơ.

– Có điều chỉnh lượng thức ăn cần thiết để cá lớn đều, không ăn thịt lẫn nhau.

– Theo dõi sự hoạt động của cá, tăng trưởng của cá.

– Cá giống cỡ 300 – 500 con/kg được đánh bắt nhẹ nhàng bằng kéo lưới, cho cá vào vèo chứa nếu chuyển đi xa, chuyển nhanh đến nơi nuôi cá rô đồng thương phẩm. Cá rô đồng giống được chuyển bằng bao nylon, có nước và bơm dưỡng khí, bọc 60×90 chở 1.500 – 3000 con/bọc.

Theo sách NXB Nông nghiệp

Chọn cá bố mẹ: Nên chọn cỡ cá 30-70g hoặc lớn hơn, có cơ thể hoàn chỉnh, không bị dị tật, dị hình. Cá có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc từ nguồn cá nuôi trong ao.

Cá đực thường nhỏ hơn cá cái và có thân dài, cá cái có bụng lớn và có tỷ lệ chiều dài thân trên chiều cao lớn hơn cá đực.

Nuôi vỗ cá bố mẹ: Ao nuôi vỗ: Nên dùng ao có diện tích 200-500m 2, mức nước sau 0,8-1m.

Mật độ nuôi vỗ cá và tỷ lệ đực cái: Cứ 1 m 2 ao nuôi vỗ 4-6 con cá bố mẹ. Ghép 2 cá đực với 1 cá cái.

Mùa vụ: Bắt đầu nuôi vỗ từ tháng 12 năm trước.

Cho cá ăn và quản lý ao: Cứ 10kg cá bố mẹ mỗi ngày cho ăn 0,2kg thức ăn hỗn hợp (gồm 25% cám, 25% ruốc và 50% bột cá). Thường xuyên quan sát màu nước và hoạt động của cá. Sau khi nuôi vỗ cá bố mẹ 2 tháng có thể chọn cá cho sinh sản.

Cho cá đẻ nhân tạo: Bể cho cá đẻ: Có thể sử dụng bể xi măng, bể nhựa, lu sành, bể bạt… Tùy số lượng cá cho đẻ nhiều hay ít mà chọn bể có diện tích 10 -20m 2.

Giữ mức nước trong bể từ 0.4-0,8m.

Chọn cá bố mẹ thành thục: Chọn những cá cái có bụng to, mềm và những con cá đực khỏe mạnh, linh hoạt để cho đẻ.

Tiêm kích dục tố: Tiêm cho 1 kg cá cái một trong hai loại kích dục tố với liều lượng như sau: 1 ống LRHa 0,2mg + 2 viên DOM (hoặc Motilium) hoặc 2.000-2.500 đơn vị HCG. Cũng tiêm cho cá đực 1 trong 2 loại thuốc trên nhưng với liều lượng chỉ bằng 1/2 của cá cái. Tiêm thuốc vào gốc vây của ngực cá. Sau khi tiêm kích dục tố thả ghép 2 cá đực với một cá cái vào bể đẻ.

Cá bắt đầu đẻ sau khi tiêm kích dực tố 6-8 giờ. Thời gian đẻ kéo dài 2-3 giờ. Vào chính vụ (tháng 5-7) tỷ lệ cá đẻ đạt 96-100%, tỷ lệ thụ tinh đạt 82-93%, tỷ lệ nở 87-98%.

Ấp trứng: Sau khi cá đẻ, trứng được vớt nhẹ nhàng chuyển vào chậu nhựa để ấp. Chậu nhựa có đường kính 50cm, mức nước trong chậu là 15 cm. Mỗi chậu có thể ấp được 50.000 trứng mà không cần phải sục khí.

Sau khi trứng nở thành cá bột được 2-3 ngày tuổi thì chuyển cá bột ra ương ngoài ao.

Ương cá bột thành cá giống: Diện tích ao ương: 500-1000m 2

Chuẩn bị ao ương: Tháo cạn ao và phơi đáy. Cứ 100m 2 ao ương bón 10kg vôi để diệt tạp, trừ mầm bệnh và bón lót 25-30kg phân chuồng.

Lấy nước vào ao qua lưới lọc trước khi thả cá bột 1-2 ngày. Cá bột được ương trong ao với mật độ 400-600 con/m 2.

Cho cá ăn: Trong 10 ngày đầu tiên: Cứ 100.000 cá bột mỗi ngày cho ăn 5 lòng đỏ trứng vịt bóp nhuyễn và 400g bột đậu nành rang xay nhuyễn. Hòa thức ăn với nước tạt cho cá ăn 2 lần/ngày.

Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20: Cứ 100.000 cá bột mỗi ngày cho ăn 300g bột đậu nành, 300g cám và 300g bột cá. Thức ăn được trộn đều và rải khắp ao cho cá ăn 2 lần/ngày.

Từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 30: Mỗi ngày cho ăn 600g cám và 600g bột cá/100.000 cá bột. Trộn đều và rải cho cá ăn.

Từ ngày 31 đến ngày thứ 40, mỗi ngày cho ăn 1,5-2kg cám và bột cá/100.000cá bột. Thành phần thức ăn là 50-70% cám và 30-50% bột cá.

Kết quả: Sau 50-60 ngày ương, cá đạt trọng lượng trung bình 1,5-2g, tỷ lệ sống đạt 20%.

Đoàn Giang (Bản tin Nông nghiệp – Vĩnh Long)

Nhấn vào đây để xem tất cả các tin kỹ thuật nuôi cá rô, cá rô đồng

Bạn đang xem bài viết Triển Vọng Nuôi Thương Phẩm Và Sản Xuất Giống Cá Lóc, Cá Rô Đầu Vuông / 2023 trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!