Top 4 # Tuổi Sinh Sản Của Cá Rồng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Fcbarcelonavn.com

Phát Hiện Mới Về Tập Tính Sinh Sản Của Cá Rồng Biển

Các nhà khoa học Australia đã phát hiện ra rằng, loài cá rồng biển thân cỏ (weedy seadragon) có các dấu hiệu độc nhất vô nhị và những con đực thường tập trung thành từng nhóm cá thể “mang thai.”

Tiến sĩ Keith Martin-Smith thuộc Đại học Tasmania đã dành thời gian hơn hai năm để chụp ảnh cá rồng biển thân cỏ phân bố ở vùng biển phía Nam Hobart, thủ phủ bang Tasmania.

Ông phát hiện ra rằng, những con đực sống độc lập thường tập hợp lại thành nhóm sau khi phối giống và gọi đây là những “nhà trẻ” bởi vì đó là nơi mà cá rồng biển đực bơi loanh quanh trong khi chăm sóc con non. Tất cả các con đực mang trứng thường tụ tập thành từng nhóm nhỏ trong phạm vi vài mét.

Cá rồng biển thân cỏ

Tiến sĩ Martin-Smith đã sử dụng một phần mềm nhận diện hoa văn để nhận biết các dấu hiệu trên thân cá rồng biển thân cỏ, qua đó phát hiện các con đực mang thai tụ tập thành từng đám.

Loài sinh vật biển này có những chấm rất đẹp dọc theo cơ thể và mỗi cá thể lại có những hoa văn dạng đốm riêng. Những hoa văn này giống như dấu vân tay ở người, ngoại trừ việc có thể phức tạp hơn.

Ông hy vọng qua đó sẽ xây dựng một cơ sở dữ liệu tương tác với công chúng qua mạng Internet để góp phần bảo tồn loài cá rồng biển thân cỏ đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Cá rồng biển thân cỏ có họ hàng với cá ngựa (sea horse) và giống như những người bà con của mình, con đực chịu trách nhiệm mang thai.

Cá cái sản xuất khoảng 200 trứng màu hồng nhạt rồi đưa các trứng này vào đuôi con đực qua một ống dẫn. Trứng sẽ bám dính vào những nguồn cung cấp oxygen ở đuôi cá đực. Tùy theo điều kiện môi trường nước ở xung quanh, trứng sẽ đổi sang màu tía và bắt đầu nở sau khoảng tám tuần lễ.

Sau thời kỳ này, con đực “thót bụng” đẩy các cá con ra khỏi đuôi. Quá trình này diễn ra trong khoảng thời gian chừng 24-48 tiếng và các cá thể con sống độc lập kể từ đó.

Ông Martin-Smith cho rằng, nghiên cứu này sẽ giúp các nhà khoa học xây dựng các mô hình quần thể cá rồng biển để bảo vệ loài sinh vật được bảo vệ nghiêm ngặt này.

Đặc Điểm Sinh Sản Của Cá

Sinh sản là đặc trưng cơ bản của sinh vật (cá) nhằm tạo ra thế hệ mới duy trì và phát triển nòi giống, là hoạt động sống thể hiện cao nhất sự thích nghi với điều kiện môi trường sống.

1.Phần lớn cá đẻ trứng, thụ tinh ngoài ở môi trường nước

Bên cạnh hầu hết các loaì cá đẻ trứng thụ tinh ngoài thì co một số loài đẻ ra con, có loài có thể lưỡng tính, có loài noãn thai sinh nhưng những trường hợp này không phải là phổ biến.

2. Tuổi thành thục của cá Tuổi thành thục là tuổi nhỏ nhất trong đời (lần đầu tiên) cá có sản phẩm sinh dục thành thục. Nó mang theo đặc tính loài và đặc điểm điều kiện sống.Thông thường, trong cùng một vùng địa lý, những loài cá có kích thước lớn thì có tuổi thành thục cao hơn cá có kích thước nhỏ. Cùng loài cá nhưng ở những vĩ độ khác nhau thì tuổi thành thục khác nhau.

3. Sự sinh sản của cá thể hiện tính mùa vụ rất cao Sự biến đổi khí hậu mùa trong năm, kéo nhau những biến đổi điều kiện môi trường(thúc ăn, lượng mưa nắng, mực nước,…). Những biến đổi đó đã tạo cơ sở hình thành các nhịp sinh học, các mùa sinh học. Trong môi trường nước, các mùa sinh học có thể là sự phát triển của các nhóm sinh vật, mùa vỗ béo, mùa di cư, mùa sinh sản…Trong đó,cá là động vật biến nhiệt, cũng tuân theo các quy luật đó. Trong tự nhiên cá sinh sản theo mùa, có mùa chính và mùa phụ.

Trải qua quá trình lịch sử hình thành, vận động và phát triển, các loài cá đã thích nghi cao đọ với điều kiện sống, thể hiện sự thích nghi cao nhất là quá trình sinh sản của cá. Nhưng biến đổi của điều kiên môi trường theo quy luật mùa đã hình thành nên tập tính sinh sản theo mùa của cá. Cá sẽ sinh sản vào những thời điểm, những mùa có điều kiện môi trường thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của phôi và cá con. Yếu tố môi trường chi phối nhiều đến các giai đoạn này là thức ăn cho ấu trùng cá, nhiệt độ cho phát triển phôi. Do đặc tính đó mà ở nước ta, mùa vụ sinh sản của cá không đồng nhất ở hai miền Nam – Bắc. Ở miền bắc, cá tập trung sinh sản vào cuối mùa xuân, đầu hè (tháng 3,4). Ở miền Nam (Đồng bằng sông Cửu Long) cá tập trung sinh sản vào đầu mùa mưa (tháng 5). Tuy nhiên đặc tính khí hậu nhiệt đới của nước ta nên vào những tháng khác (mùa khác) vẫn thấy cá sinh sản ( nhất là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long) nhưng đó không phải là mùa sinh sản chính, năng suấ và hiệu quả sinh sản không cao. Tiêu biểu trong các loài cá nuôi có thời gian sinh sản kéo dài trong năm là: cá chép, cá rô phi, cá lóc,…

4. Cá có sức sinh sản cao Sức sinh sản của cá được tính bằng lượng trứng được đẻ ra của mộit cá thể(sức sinh sản tuyệt đối) hoặc một đơn vị khối lượng cơ thể (sức sinh sản tương đối). So với động vật có xương sống khác thì cá có sức sinh sản cao nhất. Do đặc tính đẻ trứng, thụ tinh ngoài ở môi trường nước, mức độ hao hục của phôi, ấu trùng cao nên sức sinh sản cao của cá là biểu hiện sự thích ứng cao với điều kiện môi trường sống.

Sức sinh sản của cá phụ thuộc vào điều kiện sống(nhất là điều kiện sinh dưỡng và điều kiện nhiệt độ) mang theo đặc tính loài rõ rệt. Những loài cá đẻ trứng kích thước lớn có bảo vệ trứng thì có sức sinh sản thấp hơn. Những loài cá có trứng nhỏ lượng noãn hoàng ít thì có sức sinh sản cao. Những loài cá không bảo vệ trứng, không bảo vệ con thì có sức sinh sản cao hơn những loài có bảo vệ trứng, chăm sóc con.

Đặc điểm sinh sản của cá, Nguồn: MeeKông Fish.

Quá Trình Sinh Sản Của Cá Xiêm

Cá Betta là loài động vật sở hữu tập tính sinh sản rất độc đáo, với vũ điệu tán tỉnh tuyệt đẹp, cách làm tổ lạ đời và cả quá trình ấp trứng đầy thú vị!Bước 1: Chọn cá Bố Mẹ Cá Xiêm gây giống tốt nhất lúc còn non, nếu bạn tìm được một người gây giống cá uy tín để mua cặp cá Giống thì bạn sẽ rất dễ thành công. Cặp cá phải có cùng kích thước, phải là dòng thuần (không lai tạo cận huyết thống)Cá trống phải sung và nhả nhiều bọt, không bệnh tật (có đủ các tiêu chuẩn cần thiết về thân, vây) Cá mái phải căng trứng, bụng tròn, có màu vàng của trứng và có mụn trắng ở hậu môn. Cá con sinh ra sẽ giống cá mái nhiều hơn cá trống nên cá mái quyết định về chất lượng đàn cá con.

Bước 2: Chuẩn bị cho việc gây giống Để có làm quen với bể: để có Xiêm quen với môi trường nước vài tháng trước khi bắt đầu gây giống. Thời gian để cá đực sinh sản tốt nhất là không quá 14 tháng. Thiết lập bể gây giống: bể có dung tích khoảng 19-38 lít, đổ nước cao khoảng 13-15cm và có trang bị vách ngăn chia tháo lắp được, chỗ để ẩn thân, máy lọc điều chỉnh được, thiết bị cấp nhiệt đặt ở nhiệt độ 27 ℃. Nên đặt bể ở nơi yên tĩnh ít có sự sao lãng. Cho cá nhận biết nhau: để cặp cá nhận biết nhau là yếu tố cần thiết trước khi thả chúng vào chung một bể cá để giảm thiểu nguy cơ gây thương tích cho nhau. Vì vậy, bạn hãy thả chúng vào hai bên của bể gây giống đã được ngăn cách. Quan sát biểu hiện của cá: Quan sát cặp cá Xiêm để xem chúng có vẻ thích nhau không. Cá đực sẽ bơi vòng quanh, phô bày những chiếc vây của mình, phồng mang và thường thể hiện bản thân. Con cái sẽ xuất hiện những đường thẳng trên cơ thể và sẽ hướng đầu xuống một cách phục tùng. Thể hiện một chút hung hăng là điều bình thường, nhưng nếu chúng phồng mang và tấn công lẫn nhau dù có vách ngăn, thì đừng cho chúng vào chung một bể. Thay vào đó, thì tốt nhất là tách riêng hai con cá ra và thử lại sau, hoặc thử với một cặp cá Xiêm khác. Thỉnh thoảng cá Xiêm sẽ đánh nhau vậy nên tốt hơn là bạn dành chút thời gian để quan sát và chờ đợi thời cơ thích hợp. Chuẩn bị thức ăn cho cá Bố Mẹ và cả cá con

Đối với cá Bố Mẹ: chuẩn bị thức ăn tươi sống như: ấu trùng tôm biển hoặc trùn chỉ. Nếu không có thức ăn tươi sống bạn có thể tìm mua thức ăn sống đông lạnh.

Đối với cá con: Trùn cám là lựa chọn tốt nhất cho cá Xiêm con ngoài ra còn có trùn cỏ và ấu trùng tôm biển. Chỉ cho cá con ăn lượng vừa đủ để không xảy ra tình trạng rối loạn bong bóng cá khi bơi.

Bước 3: Gây giống Trong sinh sản cá đực cũng làm tổ bọt để sinh sản với cá cái một khi chúng xuất hiện. Cũng giống như khi đánh nhau với cá đực khác, con đực cũng thực hiện hành vi “phùng mang”, “giương vây” trước cá cái nhưng có một chút khác biệt so với chiến đấu, nó bơi lượn liên tục với vây xoè rộng để phô bày vẻ đẹp để hấp dẫn con cái. Cá cái thường giương vây hưởng ứng và mặc dù hành vi của cá đực có thể biến thành bạo lực bằng việc cá đực rượt cắn con cái. Nhưng một khi được con cái chấp nhận, cá betta sẽ giao phối với nhau theo một cách độc đáo được gọi là quấn hay ép vào nhau vì thế người ta hay gọi là ép cá là vậy, ngoài ra người ta còn dùng từ “cản cá” cũng là để nói đến việc ép cá của người chơi cá đá hay cá xiêm đá, cá xiêm chiến đấu, cá chọi (nghĩa là cho 2 con cá betta đực chiến đấu với nhau)

Trước khi tiến hành giao phối, cá đực sẽ tiến hành vũ điệu ve vãn cá cái, con đực sẽ lượn lờ quanh con cái, áp sát thân mình vào sát cá cái. Khi giao phối con đực quấn vào con cái ép chặt lại, mỗi ần như vậy con cái sẽ sinh ra một số lượng trứng nhất định, ngay lập tức con đực sẽ phóng tinh trùng của mình vào mỗi quả trứng. Trứng sau khi thụ tinh sẽ rơi xuống, con đực sẽ lặn xuống và nhặt từng quả trứng, ngậm trong miệng và phun lên tổ bọt khí oxy đã tạo trước đó. Nếu có quả trứng nào bị rơi xuống nước vì bọt khí vỡ cá xiêm đực sẽ cẩn thận ngậm nhặt lại và cho vào một bọt khí mới. Theo quan sát nhiều trường hợp cá cái siêng năng phụ cá đực nhặt trứng phun lên tổ bọt và điều này đương nhiên được con đực chấp nhận. Công việc lập đi lập lại như vậy cho đến khi cá cái không còn đẻ trứng nữa (mặc dù cá cái vẫn còn trứng). Sau đó nên bắt cá cái ra khỏi nơi, bời vì việc này sẽ ngăn chặn việc cá cái sẽ ăn trứng hơn nữa là bảo vệ con cái trước con đực. Một khi đã hoàn thành nhiệm vụ sinh sản cá đực sẽ tiến hành xua đuổi, rượt cắn cá cái ra khỏi khu vực tổ bọt để ngăn ngừa. Biết làm sao được khi tạo hóa đã chỉ định chỉ con đực mới có nhiệm vụ trông coi và chăm sóc trứng. Vì thế nên bắt cá cái ra, trước khi trứng nở để ngăn ngừa cái miệng háu ăn bất chấp của cá cái, còn con đực vốn đã rất mệt mỏi trước đó nên không thể kiểm soát và bảo vệ được đàn con.

Bước 4: Chăm sóc cá con Trứng được ấp trong trong tổ bọt từ 1,5 ngày – 2 ngày, khoảng 3-4 ngày sau sẽ nở hết. Con đực vẫn chăm sóc đàn con sau khi nở 2 ngày cho đến khi chúng tự bơi được. Cũng như chăm sóc trứng, trong thời gian này nếu có một con cá bột (cá con mới nở) bị chìm xuống dưới đáy, cá đực sẽ ngậm nó lên đặt lại vào tổ bọt khí. Khi cá đực không còn tạo bọt khí mới (tổ bọt rã ra), cá đực không còn nhặt cá con tha về tổ bọt nữa thì ta nên bắt cá đực ra để tiến hành chăm sóc, nuôi dưỡng cá con vừa là đảm bảo được sự phát triển của cá con vừa là để cá đực hồi phục sức khỏe. Cho cá con ăn. Ngay khi bạn tách cá đực ra, cho cá con ăn một lượng nhỏ trùn cám sống. Cho ăn hai lần một ngày, và để ý kỹ xem chúng ăn hết bao nhiêu. Nếu trùn cám vẫn còn khi đến lần cho ăn tiếp theo, thì bạn có thể bỏ qua bữa đó vì đàn cá con vẫn còn thức ăn. Nếu bạn thấy nhiều trùn cám chết, thì bạn đang cho ăn quá nhiều, cắt bớt khẩu phần tùy theo tình hình.

Nguồn: Thức ăn cho Cá sưu tầm và biên soạn

Sự Sinh Sản Của Cá Trong Bề Nuôi

Một nét quyến rũ của việc nuôi cá cảnh là có nhiều loài cá có thể nhân giống khi nuôi. Tuy nhiên do không gian bị giới hạn, thường ta khó tách chúng ra và tìm cho chúng một nơi sinh đẻ chắc chắn, do vậy mà trứng hay cá bột vừa lớn thường bị cá lớn ăn thịt. Có hể giải quyết vấn đề này bằng cách tạo những bể nuôi riêng biệt, trong đó chỉ để cá sắp sinh sản. Bể cách ly này sẽ đáp ứng được yêu cầu trên.

Người ta có thể chia sự sinh sản của cá thành hai giai đoạn: các sự kiện dẫn đến sự thu tinh và sự chăm sóc cá bột. Người nuôi cá, ở hai giai đoạn dó, cần tác động đến sự chọn lựa và đặt điều kiện cho cá trưởng thành; chuẩn bị bể nuôi cá sinh sản, trông nom sự thụ tinh và việc nuôi cá bột.

1. Các phương thức sinh sản

Cá đẻ trứng bằng nhiều cách. Một số làm phân tán trứng, một số lại đặt trứng lên giá thể, một số làm tổ, một số lại ngậm trứng trong miệng. Do có những hình thức đẻ trứng phong phú như vậy của cá mà người nuôi cá phải chuẩn bị bể nuôi cho phù hợp. Những loài cá làm phân tán trứng thường không bảo vệ trứng mà có khi còn ăn trứng. Muốn giữ trứng, ta có thể dùng nhiều cách. Nên tách cá bố mẹ ra ngay sau khi đẻ; hoặc làm một lớp sỏi đá ở đáy bể để cho trứng rơi vài các kẹt tránh bị cá bố mẹ ăn. Cũng có thể trồng nhiều loại cây trong hồ để các trứng dính bám vào để che giấu kẻ ăn mồi. Hoặc dùng một cái lưới chìm cho cá đẻ trên đó, trứng sẽ rơi xuống dưới.

Với những loài cá chôn vùi trứng, thì đáy của bể phải được phủ bằng một lớp than bùn lên trên sỏi để cá có thể vùi trứng vào đó. Các cá đẻ trên giá thể bảo vệ trứng và cá bột; do ậy cầncó đá thích hợp và hang làm chỗ đẻ tốt cho chúng. Ngược lại, cá làm tổ không đòi hỏi một vật liệu riêng biệt nào, chúng thu lượm các mảnh cây. Do đó, trong bể cần trồng nhiều cây cỏ để tạo chỗ ẩn cho cá mẹ sau khi đẻ. Ở những cá ấp trứng bằng miệng, sự ấp trứng xảy ra trong khoang miệng của cá cái. Cá này, trong suốt thời kỳ đó rất cần sự yên tĩnh và hòa bình; cá cũng không cần nghĩ tới việc ăn uống.

Có những loài cá đẻ con ngay từ lúc mới sinh, các cá con đã bơi được tự do và vóc dáng như bố mẹ chúng thu nhỏ lại. Tất nhiên là trong bể nuôi có nhiều cây cỏ và cả một thảm cây nổi, có thể làm cho chúng thoát khỏi sự ăn thịt của cá bố mẹ.

Bể sinh sản không nên có mật độ cá quá dày. Trong bể, cần có dụng cụ lọc bằng bọt bể là tốt nhất vì không gây hại cho cá con.

Phẩm chất của nước và nhiệt độ của bể sinh sản và bể nuôi chính phải giống nhau. Nếu như cá sinh sản cần có những điều kiện tồn tại khác hẳn (ví dụ như để kích thích sự đẻ trứng), ta phải làm cho cá thích nghi với môi trường mới một thời gian; có như vậy mới có đủ điều kiện thay đổi phẩm chất của nước mà không gây choáng hay rối loạn ở cá. Bể sinh sản của cá đẻ con cũng chỉ dành cha cá cái có thai và chỉ cho chúng vào đó vào đầu thời kỳ có chửa.

2. Chọn cá đẻ

Do đặc điểm sinh lý của mỗi loài cá có sự khác nhau, cho nên kỹ thuật cho cá đẻ ở mỗiđối tượng đều có sự khác nhau. Dù là cá đẻ trứng hay đẻ con, điều quan trọng trước tiên là tìm cho đúng một cặp, một trống, một mái. Thường thì cá đực có vây hậu môn biến đổi khác với cá cái. Ở các cá đẻ trứng, ít có sự khác biệt rõ rệt, nhưng có một số đặc tính có thể giúp xác định cá đực hay cá cái. Thông thường cá đực mảnh hơn và có màu sắc sặc sỡ hơn, và các vây khá phát triển. Trong bể nuôi, các loài cá thuộc họ cá rô phi thường tự lựa chọn cá khác giống để ghép đôi.

Cá chọn để sinh sản phải là cá khỏe mạnh, không bị bệnh hoặc biến dạng. ta cần chọn cá có những điểm mạnh như là có màu sắc đẹp, vây phát triển tốt v.v… Điều đó có ý nghĩa khi ta muốn cá con sẽ có màu sắc mà ta thích hoặc có vây đẹp.

Trước khi cho cá ghép đôi, người ta thường nuôi tách riêng cá đực và cá cái. Suốt trong thời kỳ này, phải chăm sóc và có chế độ nuôi dưỡng đặc biệt. Cách làm này sẽ đảm bảo là cá cái có trứng tốt. Nếu cá cái chưa sẵn sàng chịu đực thì cá đực thường săn đuổi và cắn cá cái. Vì lẽ đó mà người ta thường thả cá cái vào bể sinh sản trước; bể này sẽ là lãnh địa của nó và nếu ta thả cá đực vào, nó sẽ ve vãn cá cái. Người ta cũng có thể cho đồng thời cả cặp cá vào bể sinh sản bằng cách dùng một vách ngăn bằng kính hay nhựa để phân tách ra. Đến khi cặp cá đã sẵn sàng, ta chỉ cần cất vách ngăn cho chúng tiếp xúc với nhau.

3. Chăm sóc cá đẻ

Lúc cá sinh đẻ và giai đoạn kế tiếp, cần đặc biệt quan tâm đến cá. Một số cá đực ve vãn cá cái nồng nhiệt và tiếp tục quấy rầy con mái ngay cả sau sự thụ tinh; một số khác ngược lại, lại xua đuổi cá cái mà không chấp nhận ghép bắt cặp ngay từ đầu.

Có những loài cá không quan tâm đến trứng đẻ ra, có khi cá cái ăn trứng. Trong trường hợp này, người nuôi phải đưa cá cái sau khi đẻ ra khỏi bể nuôi, chỉ để cho cá đực chăm sóc con, hoặc có thể đưa cả cặp trống mái ra và ấp trứng một cách nhân tạo bằng cách đặt một miếng đá bọt gần trứng và để cho dòng nước chảy thay thế chuyển động quạt vây của cá bố mẹ. Làm như vậy, cá vẫn đủ ôxy để sinh trưởng.

Trứng cá họ Cá chép răng thường được đẻ ra trong các bụi cây tự nhiên, trên lớp than bùnở đáy bể. Tùy theo loài cá, ta phải thu nhặt trứng và cho nở ở nước ít sâu, có thể để chúng trong 1-2 tháng trong than bùn hầunhư khô trước khi nhúng lại vào nước để thúc đẩy sự nở trứng. Do cá đực thường khỏe hơn, trong thực tế, người ta thường xếp 1 cá đực cùng với hai cá cái. Trong trường hợp những loài cá làm tổ bọt, tốt nhất là mang cá cái ra khỏi bể sau khi trứng đã thụ tinh; cá đực sẽ bảo vệ tổ và trứng một cách nồng nhiệt.

Sau khi cá đã sinh đẻ, nên để cho cá đẻ con nghỉ vài hôm cho lại sức rồi mới cho chúng vào bể nuôi chính.

4. Nuôi cá con

Kể từ lúc bắt đầu bơi được, cá con đã cần đến thức ăn, nhưng chính trong giai đoạn chưa bơi thực sự này, cá có thể sống nhờ chất dự trữ ở túi noãn hoàng. Không cần cho ăn vội, vì lúc này cá cũng chưa biết ăn, do vậy thức ăn thừa sẽ làm ô nhiễm bể.

Thức ăn đầu tiên của cá phụ thuộc vào kích thước của cá, vì các loài cá nở ra hoặc được đẻ ra thường có kích thước khác nhau. Thường thì cá con của các loài làm tổ và đẻ trứng phân tán tỏ ra không ham ăn như cá con của họ Cá rô phi và cá đẻ con.

Ngày nay, người ta đã sản xuất ra đủ loại thức ăn riêng biệt thích hợp dưới dạng lỏng, bột, nhão, bột mịn và tổng hợp để cung cấp cho nhu cầu của cá đẻ trứng và cá đẻ con. Có loại nước màu lục có chứa trùng cỏ rất thích hợp cho cá bột còn nhỏ. Các loại giun nhỏ, rận nước … đều tốt đối với phần lớn cá nhỏ, những thức ăn lý tưởng cho cá bột đều ăn được là Artemia. Cá con lớn nhanh sẽ tìm ăn giun, bột ngũ cốc, và các loại thức ăn tổng hợp.

Ở các loài cá họ Cá sặc, như cá chọi Betta splendens và cá tai tượng … rất kỵ luồng gió lạnh có thể xâm nhập qua nắp bể, do đó khi nuôi phải chú ý che chắn chỗ có gió lùa.

Cá con cần cho ăn liên tục. Khi cá đã lớn, cần phải định kỳ thay một phần nước cũ, tăng lưu lượng thông khí và tăng hệ thống lọc. Sự tăng vận chuyển của nước và thay nước mới sẽ làm tăng sự sinh trưởng điều hòa của cá. Khi cá đã lớn, có hình dạng và màu sắc riêng biệt của cá bố mẹ, cần loại hết các cá ốm yếu, chậm chạp. các cá con không có màu và vây phát triển bình thường cũng nên loại bỏ. Lựa chọn cá đẹp đẻ nuôi, để tạo giống là cần thiết.