Top 19 # Mua Cá Chép Cảnh / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Fcbarcelonavn.com

Đặc Tính Cá Chép Cảnh / 2023

Họ: cá chép

Phân bố: hầu khắp thế giới, từ lưu vực sông Danuyp tới Đông Nam Á, sống được ở hầu hết các loại hình thủy vực, khắp các vùng địa lý, phổ biến nhất là ở ao hồ, ruộng.

Chiều dài: tới 1 m. Cá nuôi trong bể thường có kích thước nhỏ hơn.

Chế độ ăn: ăn tạp, thức ăn động vật, thực vật, thức ăn tổng hợp.

Nhiệt độ nước: 20 -27 độ C

Mô tả: thân dẹp bên, đầu thuôn, có hai đôi râu. Miện hướng phía trứơc khá rộng. Khởi điểm vây lưng sau khởi điểm vây bụng mốt ít.. Vây hậu môn cao gần bằng vây lưng. Vây đuôi có 2 thùy bằng nhau. Tia cứng cuối cùng của vây lưng và vây hậu môn đều có răng cưa ở cạnh trong.

Cá chép thiên nhiên thường có màu trắng xám, lưng màu tối, bụng màu sáng, cạnh các vây màu đỏ. Tuy nhiên do điều kiện sống khác nhau nên loài cá chép ở các vùng khác nhau thể hiện biến dị rất rõ, nhất là về hình dạng và số lượng vảy, màu sắc, kích thước và hình dạng toàn thân.

Cá chép là loại cá cảnh nuôi lâu đời nhất trên thế giới, khoảng 2000 năm ở Trung Quốc, trên 600 năm ở Châu Âu. Do kết quả chọn giống, hiện nay có thêm rất nhiều nòi cá chép khác nhau: cá chép lưng gù, cá chép màu đỏ, cá chép màu tím, cá chép kính… Cá chép Nhật bản còn có cả loại có màu đen, vàng…

Cá chép dễ nuôi. Cần lượng oxy thấp (2mg/lit), pH = 4-9. Có thể sống trong nước lợ.

Cá chép 1 năm tuổi đã thành thục. cá 2-3 tuổi đẻ 15-20 vạn trứng. Ở nước ta quanh năm gặp cá chép mang trứng. Trứng cá bám vào cây thủy sinh, rễ bèo…

Cá nột mới nở ăn sinh vật nổi, trùng bánh xe, thân gíp bậc thấp. Khi trưởng thành, cá ăn giun, ốc, trai, ấu trùng, côn trùng và cỏ nước. Trong ao nuôi, cá còn ăn phân xanh, cám, bã đậu, thóc lép và các loại thức ăn tổng hợp.

Câu Hỏi Thường Gặp

Kỹ Thuật Nuôi Cá Chép Cảnh / 2023

Kinh nghiệm nuôi cá chép Nhật

Cá có nguồn gốc từ Nhật và có tên theo tiếng Nhật là Nishiki Koi (có nghĩa là cá chép có màu gấm).

Nét độc đáo mà cá chép Nhật thu hút các nghệ nhân và những người thưởng ngoạn cá cảnh là sự đa dạng về màu sắc, hình dạng và kiểu vẩy, vây của cá, nhất là vây đuôi. Cá sống vùng nước ngọt, có thể sống trong môi trường nước có độ mặn 6%o, hàm lượng oxy trong bể nuôi tối thiểu: 2,5 mg/l, độ pH từ 4 – 9, (thích hợp nhất: pH = 7,6), nhiệt độ nước: 20 – 270 C. Cá chép Nhật rất thích hợp và sinh trưởng tốt với điều kiện nuôi tại Việt Nam.

Là loài cá ăn tạp, cá ba ngày tuổi tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài như: bo bo và các loài động phiêu sinh khác, cũng có thể ăn lòng đỏ trứng chín. Cá được 15 ngày tuổi bắt đầu chuyển tính ăn, ăn động vật đáy, do đó giai đoạn này, tỉ lệ sống bị ảnh hưởng lớn. Trong điều kiện nuôi, chúng ta phải cung cấp thức ăn bên ngoài như trùn chỉ, loăng quăng, hoặc gây nuôi tốt các động vật phiêu sinh và động vật đáy để có thể cung cấp tốt nguồn thức ăn tự nhiên cho cá… Vai trò của nguồn thức ăn tự nhiên trong giai đoạn này quyết định tỉ lệ sống của cá. Cá khoảng một tháng tuổi trở đi ăn thức ăn giống như cá trưởng thành, ăn tạp thiên về động vật như giun, ốc, trai, ấu trùng côn trùng. Cá còn ăn phân xanh, cám, bã đậu, thóc lép và các loại thức ăn tổng hợp dưới dạng viên hoặc sợi.

Thời gian tái phát dục của cá còn tùy thuộc vào bản thân loài và điều kiện sống, mùa vụ …

Thức ăn và chế độ cho ăn:

+Thức ăn: cám có 35 – 40% đạm, bón phân gây màu định kỳ tạo nguồn thức ăn tự nhiên, lượng phân bón tùy vào màu nước, phải dùng phân chuồng đã ủ hoai.

+ Lượng thức ăn: 5 – 7% tổng trọng lượng đàn, có thể thay đổi tùy vào điều kiện khí hậu môi trường có thuận lợi hay không hoặc tùy vào sức khỏe đàn cá.

+ Cá chép Nhật tương đối dễ nuôi, việc chăm sóc cũng như ao nuôi các loài cá nước ngọt khác.

+ Cải tạo ao trước khi thả giống: quy trình cải tạo ao trước khi thả giống cũng giống như ao nuôi các loài cá nước ngọt khác. Tuy nhiên cần lưu ý: cá chép nói chung thích ăn mồi ở tầng đáy, chủ yếu là động vật đáy, do đó để nâng cao năng suất nuôi và hiệu quả sử dụng ao hồ cần quan tâm đến việc gây nuôi động vật đáy để làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Bón phân gây màu: phân chuồng đã ủ hoai 25 – 50 kg/100 m2 và phải bón định kỳ (tùy vào màu nước trong ao có thể bón 1 – 2 lần/tháng).

Chuẩn bị cho cá đẻ:

– Khi cá được 7 – 8 tháng tuổi là đến giai đoạn thành thục.

– Kiểm tra độ thành thục của cá bố mẹ để chọn cá cho sinh sản. Chọn cá có màu sắc và hình dạng như mong muốn và có độ thành thục tốt như sau:

+ Đối với cá cái: lật ngửa bụng cá, chọn những con bụng to, da bụng mềm đều, lỗ sinh dục sưng và có màu ửng hồng, trứng có độ rời cao, nếu vuốt nhẹ bụng cá từ ngực trở xuống cá tiết ra vài trứng.

+ Cá đực: chọn những con có tinh dịch màu trắng sữa, kiểm tra bằng cách vuốt nhẹ phần bụng gần lộ sinh dục. Tuy nhiên, không nên vuốt nhiều lần vì cá sẽ mất nhiều tinh dịch ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ tinh.

Chuẩn bị bể đẻ và giá thể:

+ Bể đẻ là hồ xi măng, đáy bằng phẳng và không có vật nhọn. Diện tích 2,5 x 5 x 1,2 m, giăng lưới xung quanh bên trong với mục đích dễ thu gom cá bố mẹ sau khi sinh sản và tiện cho việc theo dõi cá sinh sản. Mực nước cấp vào bể đẻ ban đầu khoảng 0,5 m và phải lấy trước 2 ngày.

+ Cá chép Nhật là loài cá đẻ trứng dính trên cây cỏ thủy sinh nên giá thể là rất cần thiết. Có thể chọn bèo lục bình: vệ sinh sạch sẽ, ngắt bớt phần lá và rễ già để tạo chùm rễ thông thoáng, nên chọn phần rễ 30 cm, phần thân 20 cm là tốt nhất, ngâm vào nước muối 5% để sát trùng, loại bỏ ký sinh trùng khác.

Bố trí cho cá sinh sản:

– Phối màu: màu sắc không nên phối hợp một cách tùy tiện và theo các hướng tương đối sau:

+ Cá bố mẹ đều có màu gấm vàng hay màu gấm bạc cho sinh sản riêng và không phối sinh sản với các màu sắc khác, để có được thế hệ cá con có màu sắc chủ yếu như cá bố mẹ.

+ Cá bố mẹ tương đối có hai màu trên thân là đỏ, đen hay trắng, đen hay đỏ, trắng được cho sinh sản chung với cá có ba màu đỏ, đen, trắng.

– Mật độ, tỉ lệ đực cái tham gia sinh sản.

+ Trung bình 0,5 – 1 kg cá cái/m2 bể đẻ (khoảng 2 cá cái/m2 bể đẻ).

+ Tỉ lệ đực: cái tham gia sinh sản = 1,5/1 đến 2/1 để đảm bảo chất lượng trứng thụ tinh.

– Việc lựa chọn cá bố mẹ thường được tiến hành vào buổi sáng: 8 – 9 giờ, khi cá bố mẹ được lựa chọn phù hợp thì cá được đem lên bể đẻ, kích thích dưới ánh sáng mặt trời. Độ chiếu sáng trung bình trên hồ là 8/24 giờ. Đến xế chiều, 16 – 17 giờ cho giá thể vào và tạo dòng nước chảy nhẹ vào hồ. Bố trí hệ thống sục khí để tăng cường oxy. Việc phơi nắng và tạo dòng chảy hay tăng cường oxy là các yếu tố kích thích sự sinh sản của cá.

Hoạt động sinh sản của cá:

– Cá được đưa lên bể như trên sẽ đẻ trứng ngay vào hôm sau, khoảng 4 – 5 giờ sáng. Nếu cá chưa sinh sản thì phải bố trí lại từ đầu và tiếp tục sử dụng các yếu tố kích thích như ban đầu.

– Tương tự như cá vàng hay cá chép thường, trước khi sinh sản, có hiện tượng cá đực rượt đuổi cá cái. Dưới sự kích thích của nước mới, cá vờn đuổi nhau từ bên ngoài và chui rúc vào ổ đẻ, tốc độ vờn đuổi càng lúc càng tăng thì cá sẽ đẻ dễ dàng. Cá cái quẫy mạnh phun trứng, cá đực sẽ tiến hành thụ tinh nơi trứng vừa được tiết ra. Trong suốt quá trình sinh sản, cá đực luôn bám sát cá cái để hoàn tất quá trình sinh sản.

– Đối với trường hợp cá không sinh sản, cần vớt giá thể ra vào khoảng 9 – 10 giờ sáng hôm sau, hạ bớt một phần nước trong hồ, tiếp tục để cho cá được phơi nắng trong hồ đến xế chiều cho thêm nước mới vào để kích thích cá đẻ tiếp tục và cho giá thể vào. Tạo điều kiện môi trường như lần đầu, hôm sau cá sẽ đẻ lại.

Ấp trứng:

– Thường xuyên cho nước chảy nhẹ nhàng hoặc thay một phần lượng nước trong thau ấp bằng lượng nước đã dự trữ sẵn. Thau trứng luôn được sục khí liên tục, nhất là trứng sắp nở. Tránh sự chiếu sáng trực tiếp của ánh sáng mặt trời.

– Trứng thụ tinh sau khoảng 24 giờ sẽ thấy hai mắt đen li ti. Quá trình phát triển phôi cần lượng oxy rất cao, nhất là thời điểm trước và sau khi trứng nở, vì cơ thể cá chuyển từ trạng thái phôi bất động sang trạng thái vận động, quá trình trao đổi chất tăng. Mặt khác, các enzym được tiết để phá vỡ mối liên kết màng trứng chỉ hoạt động trong điều kiện giàu oxy, nếu thiếu oxy thì enzym bị ức chế dẫn đến tỉ lệ nở thấp.

– Trong giai đoạn cá mới nở, cá dễ chết hàng loạt nếu trên bề mặt có lớp váng. Do thiếu oxy, vì vậy phải tăng cường sục khí sau khi trứng nở.

Ương cá bột:

– Cá mới nở tự dưỡng bằng noãn hoàng trong vòng 3 ngày.

– Cá từ 3 ngày tuổi cá ăn phiêu sinh, bột đậu nành pha loãng trong nước. Sau giai đoạn này một số cá sẽ trổ màu nhưng chưa rõ nét.

– Sau 7 – 10 ngày có thể thả cá ra ao. Ao đã được chuẩn bị sẵn và được gây màu thật tốt (bón phân gây màu như đã được trình bày trong phần chuẩn bị ao nuôi vỗ cá bố mẹ). Nguồn thức ăn tự nhiên trong ao lúc này đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tỉ lệ sống của cá bột phụ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên này. Ao ương cá bột cần quản lý khắt khe nguồn cá tạp (diệt tạp trước khi thả cá bột, quản lý chặt chẽ nguồn nước ra vào ao thông qua cống, các hang mọi, trời mưa, nước tràn bờ,…).

– Sau khi thả ra ao vài ngày có thể cho cá tập ăn cám hỗn hợp, tăng dần lượng thức ăn.

– Việc chăm sóc trong giai đoạn ương quan trọng nhất là theo dõi và quản lý màu nước. Luôn giữ nước có màu xanh lá non, ao luôn được thông thoáng, mặt ao có gió lùa. Tùy điều kiện có thể thay nước 2 – 3 lần/tháng.

– Để phòng bệnh cho cá cần tuân thủ đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật từ quá trình chuẩn bị ao, bể đẻ, nuôi vỗ cá bố mẹ,… đến khâu quản lý ao ương cá con.

– Khi cá được khoảng 4 – 5 tháng tuổi, bắt đầu phát triển kỳ, vây theo kiểu dáng, màu sắc đặc trưng của cá là có thể thu hoạch để bán.

(St)

Cá Chép Ăn Gì? Những Lưu Ý Khi Nuôi Cá Chép Cảnh / 2023

Đôi nét về cá chép cảnh

Cá chép ăn gì?

Thức ăn động vật

Đây là nhóm thức ăn chính của mọi là cá. Nguồn thức ăn này có sẵn trong thiên nhiên như hồng trần, bọ gậy, thuỷ trần, giun đất, tôm tép…

Thức ăn hỗn hợp

Cá chép là loài dễ tính trong chuyện ăn uống. Bởi vậy nuôi chúng không gặp khó khăn gì.

Loài cá này có thể ăn mọi thức ăn do chúng ta chế biến, nếu chúng gặp việc tìm kiếm nguồn đồ ăn tươi quá khó. Bên cạnh đó, bạn có thể thay đổi và làm đa dạng bữa ăn của cá với thức ăn dạng hỗn hợp. Có thể, trong những ngày đầu, những chú cá của bạn sẽ chê và ăn rất ít. Nhưng đừng lo lắng, chỉ cần đến ngày thứ 2-3, chúng sẽ quen dần và ăn uống bình thường.

Nhóm thức ăn hỗn hợp cũng rất đa dạng. Bao gồm:

Thức ăn thực vật

Trong ao hồ thường có rong rêu, bèo tấm hay rau cỏ, rễ cây… Đây là nguồn thức ăn dồi dào vitamin của cá.

Cá chép ăn gì và những lưu ý về thức ăn

Người nuôi không nên tự ý vớt những loài thân giáp thủy sinh tại khu vực có nhiều loài cá sinh sống tự nhiên. Bởi rất có thể chúng sẽ mang nguồn bệnh vào bể nuôi cá cảnh. Do đó, bạn cần phải làm bể nuôi thường xuyên và cẩn thận để đảm bảo an toàn cho cá.

Bạn không nên cho cá quá nhiều, chỉ cho chúng ăn khẩu phần vừa đủ. Vì lượng thức ăn thừa nhiều sẽ khiến cá tích tụ mỡ. Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến tuổi thọ của chúng mà còn làm giảm tuổi thọ cá. Đồng thời làm nước bị ô nhiễm.

Chế độ ăn của cá chép cảnh

Chế độ ăn theo độ tuổi

Tùy từng giai đoạn của cá từ nhỏ đến khi trưởng thành, mà người nuôi áp dụng chế độ thức ăn phù hợp. Ví dụ:

Cá chép con: Đối với cá nhỏ, bạn nên cho chúng ăn các loại động vật có kích thước bé như phiêu sinh, bo bo, trùn chỉ, loăng quăng,…

Cá trưởng thành: Cá trưởng thành có thể ăn đa dạng các loại thức ăn. Ngoài nhóm thức ăn tương tự như cá chép con, chúng còn thể ăn thêm giun, ốc, trai, bã đậu, thóc lép, ấu trùng, cám… hay đồ ăn tổng hợp dạng viên.

Chế độ ăn hàng ngày

Lời kết

Cá Chép Cảnh – Loại Cá Cảnh Dung Dị Điềm Đạm Và Dễ Nuôi / 2023

Trong tư tưởng của nhiều người, cá chép dường như gắn liền với nguồn thực phẩm dồi dào hơn là hình ảnh những chú cá cảnh thật mướt mắt. Tuy nhiên với những người yêu cá cảnh, thì cá chép lại là một trong những lựa chọn khá thú vị, làm cho bộ sưu tập cá cảnh chim kiểng của mình thêm phong phú với rất nhiều hào hứng.

Có thể nói trong thế giới cá cảnh, cá chép cảnh không phải là một hiện tượng đặc sắc. Loại cá cảnh này khá dung dị và điềm đạm, ở một khía cạnh nào đó tạo cho những người yêu thích cá cảnh một khoảng không đầy trầm tư. Từ màu sắc vây cá, hình dáng, đuôi cá đến cá tính,..cá chép cảnh như một hiện thân của sự khiêm tốn và khá trầm, nó không làm cho tủ cá trong nhà bạn trở nên quá đặc biệt, cũng không làm cho thế giới cá cảnh của bạn đầy biến động, nhưng hơn hết cá chép cảnh sẽ là điểm nhấn nhã nhặn cân bằng những phút sốc nổi của thế giới cá cảnh sôi động, mặt khác lại góp phần tôn tạo những khung hình quá trầm của một bể cá chỉ yên ắng đến nhàm chán với những gợn sóng thật mềm mại đáng yêu.

Tổng quan về cá chép cảnh

Cá chép là loại cá nước ngọt, được cho là có nguồn gốc từ Trung Á nhưng phân bố khá rộng ở cả khu vực Châu Âu, Châu Á và Trung Đông. Đặc điểm của cá chép là rất linh hoạt và dễ thích nghi nên có thể sống trong các môi trường nước ngọt khá đa dạng. Chính vì thế cá chép cảnh cũng có đặc tính linh hoạt và là một trong những loại cá cảnh khá dễ nuôi, còn dễ nuôi hơn cả cá bảy màu.

Cũng như cá vàng, cá chép cảnh thuộc họ Cyprinidae, khi còn nhỏ nó có bộ dạng khá giống cá vàng và được phân biệt với cá vàng bởi cặp râu tại góc miệng. Về đặc điểm hình dáng và cấu trúc, ngoài cặp râu ở bên góc miệng, bạn quan sát kỹ sẽ thấy mắt của cá chép khá nhỏ, môi dày, đuôi chẻ, vảy lớn và dày, xương cá nhỏ.

Về màu sắc, nếu như ở cá chép hoang dã màu vây chủ yếu có màu xanh ô liu chuyển dần sang màu đồng hoặc màu bạc  thì cá cảnh lại có màu sắc đa dạng hơn kèm theo hoa văn. Trong màu vây của cá chép cảnh thường thấy có màu trắng, bạc và các hoa văn có màu đen, vàng, đỏ, cam và xanh.

Trong tự nhiên cá chép phát triển đến kích thước khá lớn trung bình khoảng 4-5kg và hiện nay cá chép có trọng lượng lớn nhất được biết đến là ở trọng lượng 10kg. Tuy nhiên với cá chép cảnh thì thường được duy trì ở trọng lượng nhỏ, nhiều nhất là đến trung bình mà thôi. Cá chép cảnh sống được trong môi trường nước đa dạng và có thể tồn tại sinh trưởng ngay cả trong môi trường nước dù có bị ô nhiễm, thế nên việc nuôi cá chép cảnh với nhiều người cũng đỡ vất vả hơn so với các loại cá kén môi trường nước khác.

Về thức ăn, cá chép cảnh ăn tạp. Cá có thể ăn động vật thân mềm nhỏ, giáp xác, ấu trùng và một số loại hạt. Cá chép cảnh cũng tiêu thụ dễ dàng các chất hữu cơ nói chung và không quá kén về thức ăn, cũng như không buộc phải tuân thủ một chế độ ăn nghiêm ngặt như nhiều loại cá cảnh khác.

Cá chép cảnh có đặc tính là hiền, điềm tĩnh, không gây hấn và có thể sống chung với các loại cá khác. Cá chép cảnh cũng rất hiếm khi ăn cá con nhưng ăn trứng cá cũng như ấu trùng. Thế nên môi trường nào có cá đang sinh sản thì hẳn nhiên sẽ dễ bị cá chép cảnh quấy nhiễu.

 Phân loại về cá chép cảnh

Đối với cá chép, được cho là có khoảng gần 10 loại khác nhau gồm có các loại như cá chép bạc, cá chép thường, cá chép kính, cá chép mè, cá chép diếc, cá chép lớn hay còn gọi Catla, cá chép mrigal hay cá chép trắng, cá chép trôi hay còn gọi là molitorella Cirrhinus. Tuy nhiên hiện nay trong phân loại cá chép cảnh có 2 loại được nhắc tên thường xuyên, cũng như nuôi phổ biến là Cá chép vàng gọi là goldenfish có tên khoa học là Carassius auratus và cá Koi còn được gọi thông dụng là Cá chép Nhật hay Cá chép vảy rồng. .

Kỹ thuật nuôi cá chép cảnh

Với đặc điểm là cá nước ngọt, linh hoạt trong các môi trường sống, điều kiện nuôi cá chép cảnh không quá phức tạp. Bạn có thể chọn kích cỡ hồ tùy ý dựa trên một số nguyên tắc về kích cỡ của cá, cũng như đặc tính của nó. Nước có thể có độ mặn nhưng không nên quá 6%, hàm lượng oxy trong bể cá khoảng 2,5mg/l, độ pH khoảng 6-7 và nhiệt độ nước có thể từ 20-270 độ C.

Về thức ăn, vì là cá ăn tạp, nên vấn đề thức ăn, kỹ thuật cho ăn khi nuôi cá chép khá đơn giản và không có lưu ý gì đặc biệt. Tuy nhiên tùy từng giai đoạn phát triển của cá từ nhỏ đến trưởng thành, nên áp dụng chế độ ăn và thức ăn phù hợp. Ví dụ như cá chép con, bạn nên cho ăn động vật phiêu sinh hay bo bo, sau đó là trùn chỉ, loăng quăng,…Đến khi cá trưởng thành có thể cho ăn thêm giun, ốc, trai, ấu trùng, cám, bã đậu, thóc lép và các loại thức ăn tổng hợp dạng viên dành cho cá trưởng thành.

Về sinh sản, cá chép cảnh có thể sinh sản quanh năm. Cá đẻ trứng và có tập tính ăn trứng nên bạn nuôi cá trong giai đoạn sinh sản phải chú ý cho thêm lục bình, xơ nilong để giảm thiệt hại về trứng. Cá đẻ trứng dễ dàng hơn trong điều kiện nước mát và sạch, cũng như cần được chăm sóc bằng chế độ ăn tốt trước đó.

Nhìn chung, với cá chép cảnh, với sự dung dị điềm đạm và dễ nuôi, bất cứ ai cũng có thể nuôi được loại cá cảnh này. Không tốn công quá nhiều như các loại cá cảnh khác, cá chép cảnh luôn mang lại cho người nuôi cảm giác dễ chịu và thoải mái vì không phải tuôn giữ quá nhiều kỹ thuật trong chăm sóc và suốt quá trình nuôi cá. Trong tự nhiên dù loài cá chép có mặt trái của nó thường bị đánh giá là một trong những loại cá đóng góp vào sự mất cân bằng sinh thái sông hồ – nơi môi trường mà chúng sinh sống, tuy nhiên ở những góc độ khác, cá chép nói chung và cá chép cảnh nói riêng vẫn luôn là một lựa chọn dễ chịu cùng sự đánh giá đầy thiện cảm với thái độ khá nhẹ nhàng từ những người chơi cá cảnh hay nghiên cứu về nó.