Xem Nhiều 11/2022 #️ Thức Ăn Thủy Sản Greenfeed Đồng Hành Cùng Mùa Vụ Cá Lóc Thành Công Tại Trà Vinh / 2023 # Top 19 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 11/2022 # Thức Ăn Thủy Sản Greenfeed Đồng Hành Cùng Mùa Vụ Cá Lóc Thành Công Tại Trà Vinh / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thức Ăn Thủy Sản Greenfeed Đồng Hành Cùng Mùa Vụ Cá Lóc Thành Công Tại Trà Vinh / 2023 mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thức ăn Thủy sản GreenFeed đồng hành cùng mùa vụ cá lóc thành công tại Trà Vinh

Theo Thông tấn xã Việt Nam, khoảng 6 tháng nay, người nuôi cá lóc tỉnh Trà Vinh rất phấn khởi do giá cá lóc thương phẩm luôn ổn định ở mức cao, dao động từ 38.000 – 42.000 đồng/kg.

Hiện, cá lóc thương phẩm loại 1 (0,8 – 1kg/con) được thương lái mua tại ao với giá 40.000 – 42.000 đồng/kg, tăng từ 13.000 – 15.000 đồng/kg so với cùng kì năm trước. Với giá bán này, sau khi trừ chi phí, người nuôi đạt lợi nhuận khá ổn định và khẳng định mô hình nuôi cá lóc từ trước đến nay vẫn luôn là một sinh kế quan trọng đối với phát triển kinh tế của tỉnh.

Cô Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Chủ nhiệm HTX Càng Long, huyện Càng Long hiện có 5 ao nuôi cá lóc với diện tích 6.000 m2 , sản lượng 100 tấn cá/vụ, thời gian thu hoạch từ 6 – 6,5 tháng, tùy vào nhu cầu thị trường. Cô vừa xuất bán 2 đợt cá lóc thương phẩm với giá 41.000 – 42.000 đồng, bình quân trọng lượng từ 600 – 700 gr/con, lợi nhuận cô thu về sau khi trừ hết các khoản chi phí dao động ở mức 16.726 đồng – 16.470 đồng/kg.

Trại cô Tuyết đạt chỉ số tiêu tốn thức ăn (FCR) 1,25 khá hiệu quả so với các trại khác trong vùng

Thương lái đánh giá cao chất lượng cá khi thu hoạch

Một hộ khác là chú Sáu Tiến, ngụ xã Phương Thạnh, vốn là nhân viên công tác xã hội tại địa phương. Hứng thú với mô hình nuôi cá lóc của nhiều bà con trong vùng, chú cũng quyết định đầu tư ao chuyên nuôi cá lóc có diện tích hơn 500 m2. Sau khoảng 6 tháng thả nuôi và cho ăn bằng thức ăn thủy sản nhãn hiệu PanaFeed do GreenFeed sản xuất cho đến ngày xuất bán, với diện tích ao nuôi của nhà, chú Sáu Tiến thu hoạch được 9 tấn cá, thương lái đã đến trại thu mua với giá 42.000 đồng/kg”.

Chú Sáu Tiến nhận xét đàn cá trở nên khỏe, mập và phát triển đồng đều sau thời gian dùng thức ăn PanaFeed của GreenFeed

Tổng kết hiệu quả sau lần đầu nuôi cá lóc, sau khi trừ tất cả các chi phí đầu tư thức ăn, thú y (khoảng 26.500 đồng/kg cá), … chú thu về lợi nhuận hơn 150 triệu đồng/vụ.

 

Giảm Giá Thành Thức Ăn Nuôi Thủy Sản / 2023

Có thể nói thức ăn thủy sản Việt Nam đang nằm trong sự “thống trị” của các doanh nghiệp nước ngoài, khi nắm giữ tới 80% thị phần. Thức ăn cho tôm là sự “độc bá” gần như 100% của Uni-President, Grobest (Đài Loan), CP (Thái Lan), Tomboy (Pháp)… Với thức ăn cho cá tra, Cargill (Mỹ), Green Feed, Proconco (liên doanh với Pháp), Anova… cũng chiếm tới trên 60-70%.

Sự “phong tỏa” không ngừng

Tôm là thế mạnh bậc nhất trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nhưng thị trường thức ăn cho tôm hoàn toàn lọt vào tay các DN nước ngoài. Diện tích nuôi tôm ngày càng mở rộng, nhu cầu thức ăn cho tôm ngày càng lớn nhưng DN trong nước không thể chen chân. Tình hình cũng tương tự đối với cá tra, một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Theo đánh giá của Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, hiện sản xuất thức ăn cho cá tra góp mặt tên tuổi của vài DN Việt Nam như Việt Thắng, Vĩnh Hoàn, Hùng Vương, Cỏ Mây… Các DN này tồn tại được nhờ từ lâu đã có chu trình sản xuất khép kín từ thức ăn, con giống cho đến tiêu thụ sản phẩm chứ không phải nhờ sự phân phối ra thị trường.

Trong khi đó, các DN nước ngoài liên tục có kế hoạch phát triển, xây dựng thêm nhà máy và mở rộng quy mô sang các lĩnh vực tiệm cận. Đại diện Công ty Uni-President Việt Nam cho biết, hiện thức ăn dành cho tôm của Công ty chiếm 30-35% thị phần, thức ăn dành cho cá da trơn chiếm gần 10% thị trường Việt Nam. Và riêng 3 “ông lớn” là Uni-President Việt Nam, Grobest và C.P Việt Nam đã chiếm tới 70-80% thị phần thức ăn cho tôm.

Với 3 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản, hàng năm Uni-President Việt Nam cung cấp sản lượng 300.000 tấn/năm. Công ty Green Feed cũng đã tăng vốn đầu tư lên 80 triệu USD (lúc đầu là 25 triệu USD), với kế hoạch ngoài 4 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản hiện nay, họ sẽ đầu tư mạnh vào sản xuất con giống thủy sản chất lượng cao để cung cấp cho thị trường Việt Nam trong năm nay. Riêng Công ty C.P Việt Nam, Tổng Giám đốc Sooksunt Jiumjaiswanglerg đã tuyên bố rằng, ngoài việc mỗi năm cho ra đời 1 – 2 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, sắp tới họ sẽ còn lấn sân sang lĩnh vực chế biến thủy sản, với việc xây dựng mới nhà máy chế biến tôm ở Huế và nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu tại Bến Tre.

Áp lực lớn lên người nuôi

Cơ chế thị trường, DN có thị phần càng lớn, càng dễ thống lĩnh về giá. Và từ đầu năm đến nay, giá thức ăn thủy sản tăng tới 6 – 7 lần, mỗi lần 200 – 300 đồng/kg. Giá thức ăn chăn nuôi lẫn thủy sản từ trước đến nay chỉ có một chiều tăng chứ chưa hề giảm. Theo ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam, trong nuôi cá tra, thức ăn chiếm tới 80% giá thành. Nhưng quản lý nhà nước thời gian qua đã bỏ qua những doanh nghiệp sản xuất thức ăn dẫn đến giá tăng liên tục, từ đầu năm đến giờ đã tăng hơn 35%. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến người nuôi cá tra.

Thực tế cho thấy, mặc dù giá cá tra, tôm nguyên liệu tăng lên nhưng người nông dân vẫn khó lòng mặn mà với việc nuôi trồng hai loại thủy sản đang được ưa chuộng này. Nhiều diện tích nuôi tôm, cá tra tại ĐBSCL liên tục giảm.

Nguyên nhân là do các chi phí đầu vào, đặc biệt là giá thức ăn, giá cá giống tăng mạnh khiến chi phí đầu tư nhảy vọt. Theo các nông dân nuôi cá tra ở tỉnh Tiền Giang, để đầu tư được 100 tấn cá tra cần tới 2,2 tỷ đồng (trung bình 1 hecta cho sản lượng 300 tấn). Mặt khác do “dư chấn” của những vụ nuôi cá thua lỗ năm 2008-2009 nên nhiều người dân thiếu vốn sản xuất.

Do đó hiện nay ở Tiền Giang, diện tích nuôi cá tra chủ yếu là của doanh nghiệp chế biến thủy sản thuê ao của dân để chủ động nguồn nguyên liệu. Nhiều nông dân nuôi tôm cũng luôn trong tình trạng thắc thỏm với mỗi khi giá thức ăn tăng. Theo ông Võ Hồng Ngoãn, “Vua tôm” Bạc Liêu, tôm là đối tượng nuôi cho năng suất, lợi nhuận cao nhưng lại chứa đựng nhiều rủi ro, và sự thất bại dễ dẫn đến trắng tay, khiến người nuôi khánh kiệt. Vì thế, các yếu tố đầu vào như thức ăn, con giống mà không ổn định thì người nông dân không dám mạo hiểm với đối tượng nuôi này.

Theo đại diện một số doanh nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản thì hiện nay có tình trạng một số doanh nghiệp thức ăn của Trung Quốc chiết khấu cho đại lý từ 5.500-6.000 đồng/kg, làm cho nhiều DN sản xuất thức ăn băn khoăn và mong muốn Nhà nước can thiệp vì đây cũng là lý do khiến giá thức ăn tăng trong thời gian qua.

Chung tay bình ổn giá đầu vào

Trước tình trạng giá thức ăn thủy sản liên tục tăng cao và luôn chịu chi phối từ các DN sản xuất thức ăn nước ngoài, thì vấn đề đặt ra là bình ổn giá thức ăn trên thị trường. Đây là niềm mong mỏi lớn của rất nhiều người nông dân. Tuy nhiên, để làm được điều này lại không dễ.

Theo ông Lương Lê Phương, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, về luật, Nhà nước không can thiệp sâu vào doanh nghiệp kinh doanh, mà chỉ khuyến cáo. Bộ NN&PTNT khuyến cáo xem lại giá thức ăn chăn nuôi có hợp lý hay không, các công ty viện lý do giá nguyên liệu, lạm phát tăng… nhưng không hợp lý. Họ đã đưa ra giá mặt bằng chung và người nuôi phải chấp nhận. Vì vậy, khi khuyến cáo, các doanh nghiệp không nghe thì cần vận động tẩy chay đối với những sản phẩm tăng giá không hợp lý, chất lượng không đảm bảo.

Tuy nhiên, trên thực tế, thói quen tẩy chay hàng hóa của người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là người nông dân, vốn ít xảy ra, thậm chí là không. Vì thế, giải pháp bình ổn giá bằng phương pháp tẩy chay thực ra còn khá xa. Người nông dân vẫn cần một biện pháp mạnh mẽ hơn từ phía quản lý nhà nước để đảm bảo lợi ích chính đáng của mình

Sử Dụng Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Rô Đồng – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Tập tính ăn của cá rô đồng

Rô đồng là loài cá nước ngọt, tốc độ sinh trưởng tương đối chậm. Cá có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống được trong điều kiện thiếu ôxy tạm thời nhưng mặt nước phải thoáng. Cá có thể di chuyển trên cạn tương đối xa. Cá rô đồng là loài ăn tạp và dễ tính trong lựa chọn thức ăn. Chúng có thể ăn các loại hạt mầm, thực vật non mềm, các loại động vật hợp cỡ như tép, giun… và thích thức ăn hỗn hợp dạng viên. Cá có thể ăn nổi trên mặt nước, trong tầng nước và cả đáy ao. Việc sử dụng thức ăn công nghiệp nuôi cá đem lại hiệu quả cao bởi giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước so với thức ăn chế biến, đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng dành cho cá.

Sử dụng thức ăn công nghiệp

Tuy trong tự nhiên cá rô đồng là loài ăn tạp nhưng lại thiên về động vật nên thức ăn cho cá rô đồng có lượng đạm khá cao. Người nuôi có thể sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi có hàm lượng và kích cỡ viên phù hợp từng giai đoạn phát triển của cá.

Tháng nuôi đầu, dùng thức ăn có độ đạm 35 – 40%, cỡ viên nhỏ hơn 1mm, một ngày cho ăn với lượng 7 – 10% tổng trọng lượng cá. Cho cá ăn 3 – 4 lần/ngày.

Tháng nuôi thứ 2 và 3, dùng thức ăn có độ đạm 30 – 35%, cỡ viên nhỏ hơn 2mm, cho ăn lượng 5 – 7% trọng lượng cá/ngày.

Tháng nuôi thứ 4 và 5, dùng thức ăn có độ đạm 25 – 30%, cỡ viên nhỏ hơn 2,5mm, cho ăn lượng 3 – 5% trọng lượng cá/ngày. Cho cá ăn 2 lần/ngày, nên quan sát lượng thức ăn để điều chỉnh cho phù hợp, tránh thừa thức ăn.

Chú ý: Quản lý thức ăn tốt để giữ nước ao luôn sạch giúp cá phát triển tốt.

Sản Xuất Thức Ăn Công Nghiệp Cho Cá Chẽm Tại Trung Quốc / 2023

Cá chẽm (Asian Seabass) đang là thực phẩm hút khách tại Trung Quốc; do đó, các hãng thức ăn đã tập trung xây dựng công thức thức ăn cho loại cá này, dựa vào nhu cầu dinh dưỡng của cá, mô hình nuôi và thị trường.

Nhu cầu thị trường

Hiện, có rất nhiều kết quả nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của cá chẽm châu Á. Thông thường, cá đạt tăng trưởng tốt nhất khi thức ăn chứa 45 – 55% CP kết hợp các axit amin thiết yếu. Về chất béo, cần thiết phải bổ sung theo tỷ lệ 15 – 22% kết hợp 1,5 – 1,7% các axit béo EPA+DHA.

Tuy nhiên, nông dân Trung Quốc lại chú trọng hình thức của thức ăn, độ ngon miệng và hiệu suất tăng trưởng. Nói về hình thức của thức ăn, người nuôi cá ưu tiên màu sắc, tỷ lệ bụi, tỷ lệ nổi và tính linh hoạt; độ ngon của thức ăn nhấn mạnh đến hương vị. Nông dân cũng có những tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá chất lượng thức ăn qua màu sắc; đôi khi màu vàng chứng tỏ thức ăn chất lượng tốt, thi thoảng màu nâu hoặc màu đậm cũng là dấu hiệu của thức ăn chất lượng. Trong khi đó, nông dân cũng yêu cầu thức ăn phải có mùi tanh như cá vì đây là yếu tố cần thiết để thu hút cá chẽm ăn. Thành phần bụi phải thấp và tỷ lệ nổi phải đạt trên 99%. Nếu không, nông dân sẽ từ chối mua thức ăn. Cuối cùng nhưng cũng quan trọng, tính đàn hồi sẽ được đánh giá bằng cách nén chặt viên thức ăn sau khi ngâm trong nước. Viên thức ăn mềm có độ đàn hồi cao được đánh giá chất lượng tốt nhất vì nông dân tin rằng thức ăn như vậy sẽ dễ tiêu hóa và ổn định dưới nước.

Khi thức ăn đáp ứng được các tiêu chuẩn trên, nông dân mới chấp thuận mua thức ăn và cân nhắc yếu tố tiếp theo là độ ngon của thức ăn – cũng là yêu cầu quan trọng nhất. Nông dân sẽ quan sát cá chẽm có hiện tượng nhả thức ăn ra ngoài, hoặc không ăn hay không. Nếu có hiện tượng này, chứng tỏ thức ăn chất lượng thấp còn nếu cá nhả thức ăn ra ngoài có thể do nhiều nguyên nhân như bột cá lẫn tạp chất, hoặc thức ăn chứa các chất kháng dinh dưỡng và thành phần bị ôi.

Nông dân giám sát điều kiện sức khỏe của gan cá và tăng trưởng định kỳ. Tương tự các loại cá ăn thịt khác, cá chẽm không thể chuyển hóa tinh bột thành nguồn năng lượng. Bệnh gan nhiễm mỡ thường xuất hiện khi cá ăn thức ăn có chứa hàm lượng tinh bột cao. Bị ôi do ôxy hóa cũng là rủi ro thường gặp ở cá chẽm châu Á, phổ biến nhất là phần gan bị sưng viêm khi cá được cho ăn các loại chất béo bị ôi. Thời gian nuôi cá chẽm châu Á thường kéo dài 7 đến 8 tháng với FCR khoảng 1,3 – 1,4.

Chiến lược thức ăn

Bột cá vẫn là thành phần đầu tiên trong thức ăn của cá chẽm châu Á. Vì tính bền vững, cộng với giá thành đắt đỏ đã kéo theo 2 xu hướng sau: đầu tiên, ngày càng có nhiều bột cá bị pha trộn được bán trên thị trường, ví dụ trộn lẫn bột lông vũ; thứ hai, các nhà máy thức ăn đang có xu hướng tìm kiếm nguyên liệu thay thế bột cá.

Để giải quyết khó khăn khi phải xây dựng công thức thức ăn trong bối cảnh giá bột cá leo thang, hãng Nutriera đã phát triển công thức thức ăn mới để nâng cao sinh khả dụng của chất dinh dưỡng, cải thiện sức khỏe cá, cùng đó có thể đưa nhiều thành phần thực vật vào thức ăn của cá chẽm châu Á. Gluten bột mỳ có thể được sử dụng như một nguồn protein trong thức ăn công nghiệp cho cá chẽm châu Á. Độ đàn hồi của gluten bột mỳ có thể giảm hàm lượng tinh bột trong công thức thức ăn và cải thiện đáng kể lý tính của thức ăn viên. Tuy nhiên, tinh bột vẫn cần thiết trong chế biến thức ăn, bởi vậy, vẫn luôn xuất hiện những rủi ro không đặc thù với sức khỏe gan cá. Lúc này, có thể bổ sung phụ gia chức năng của Nutriera vào thức ăn để nâng cao sức khỏe gan và hiệu suất tăng trưởng của cá.

Để sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cá chẽm châu Á, các nhà sản xuất tại Trung Quốc đặt nhu cầu thị trường lên hàng đầu. Dinh dưỡng, hiệu quả vật lý và hiệu suất tăng trưởng sẽ là những nhân tố quan trọng nhất để đánh giá các nguyên liệu đầu vào. Cuối cùng, phụ gia chức năng, các loại vitamin phù hợp và khoáng chất sẽ tác động đến chi phí thức ăn và năng suất cuối cùng.

Để giải quyết nhu cầu thức ăn cho cá chẽm, Tập đoàn Guangdong Nutriera tại Trung Quốc đã phát triển giải pháp công nghệ phân loại hiển vi để phát hiện bột cá pha tạp chất chỉ trong 2 giờ. Bột cá bị pha trộn hiện đã được phân tích đầy đủ các chỉ tiêu gồm protein, nitơ và thành phần axit amin.

Bạn đang xem bài viết Thức Ăn Thủy Sản Greenfeed Đồng Hành Cùng Mùa Vụ Cá Lóc Thành Công Tại Trà Vinh / 2023 trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!