Xem Nhiều 2/2023 #️ Tháo Gỡ Khó Khăn Cho Ngành Cá Tra Việt Nam # Top 2 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tháo Gỡ Khó Khăn Cho Ngành Cá Tra Việt Nam # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tháo Gỡ Khó Khăn Cho Ngành Cá Tra Việt Nam mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nhu cầu xuất khẩu cá tra năm 2017 sẽ tăng khoảng 20%, đặc biệt ở các thị trường châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông. Còn theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thị trường cá tra năm 2017 sẽ tăng trưởng 10%, đạt kim ngạch hơn 1,7 tỷ USD.

Năm 2016, diện tích nuôi cá tra của cả nước đạt gần 5.000ha, sản lượng 1,2 triệu tấn, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ 2015. Trong đó, thị trường Mỹ đạt 387 triệu USD, tăng 22,8%; thị trường Trung Quốc đạt 304,7 triệu USD, tăng 88,7%. Năm 2016 cũng chứng kiến sự thay đổi về cơ cấu tỷ trọng của các thị trường nhập khẩu cá tra từ Việt Nam, theo đó, các thị trường EU, ASEAN có chiều hướng giảm trong khi giá trị xuất khẩu tại thị trường Mỹ, Trung Quốc hay Trung Đông, Nhật Bản có dấu hiệu tăng. Đặc biệt, Trung Quốc được dự báo sẽ sớm vượt qua Mỹ để trở thành thị trường nhập khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, các nhà máy chế biến cá tra hiện nay đang phải giảm công suất, chế biến cầm chừng do thiếu nguyên liệu. Hiện giá cá tra nguyên liệu mua tại ao ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) loại 1kg/con ở mức 25.500 – 26.000 đồng/kg. Mức giá này được dự báo sẽ còn tăng trong thời gian tới do sản lượng cá cung cấp cho các nhà máy chế biến hiện chỉ đạt 40%, tương đương hơn 2.000 tấn/ngày, thiếu hụt khoảng 2.500 tấn/ngày. Ngoài ra, giá cá tra giống cũng tăng gấp 3 lần so với trước đây. Hiện giá cá giống loại 25 con/kg đã lên đến hơn 40.000 đồng/kg song cũng không cung ứng đủ cho thị trường.

Vấn Đề Quy Hoạch Và Liên Kết

ĐBSCL là vùng nuôi cá tra chính của nước ta. Trước đây, có 10 tỉnh thả nuôi cá tra, nhưng hiện nay, theo Hiệp hội Cá tra Việt Nam, một số địa phương đã thu hẹp hoặc không còn hoạt động nuôi cá tra nữa. Chẳng hạn, tỉnh Sóc Trăng, Hậu Giang, Vĩnh Long giảm diện tích và sản lượng nuôi, tỉnh Kiên Giang hoàn toàn không còn nuôi, trong khi một số địa phương khác lại tăng diện tích và sản lượng. Thực hiện Nghị định 36/2014/NĐ-CP về nuôi, chế biến, xuất khẩu sản phẩm cá tra, một số địa phương nuôi cá tra chủ lực như Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp đã ban hành quy hoạch vùng nuôi, một số địa phương khác cũng bước đầu hoàn thiện công tác rà soát quy hoạch vùng nuôi, góp phần định hình bản đồ quy hoạch vùng nuôi cá tra của cả nước, giúp nâng cao công tác quản lý, chỉ đạo sản xuất của chính phủ đối với hoạt động nuôi cá tra.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chế biến cá tra cũng đã dần hình thành vùng nuôi nguyên liệu tự chủ, đảm bảo các điều kiện tiêu chuẩn kỹ thuật nguyên liệu cũng như ổn định nguyên liệu đầu vào phục vụ cho chế biến xuất khẩu, đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm của các thị trường xuất khẩu khó tính, nâng cao chất lượng và giá thành của sản phẩm cá tra của Việt Nam.

Ngược lại, nông dân nuôi cá tra lại tương đối dè dặt trong việc thả nuôi cá tra. Sau những khó khăn liên tiếp từ vài năm gần đây, người nuôi cá tra rơi vào cảnh cạn kiệt nguồn lực hoặc khá thận trọng trước quyết định thả nuôi vụ mới. Do đó, dù giá nguyên liệu đang tăng cao, song nhiều người nuôi vẫn không mặn mà thả giống vụ mới do lo ngại không biết giá còn duy trì được cho đến khi thu hoạch vụ mới hay lại rơi vào cảnh “được mùa mất giá”. Một trong những nguyên nhân của hiện tượng trên là do khả năng liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp chế biến còn kém. Chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp và người nuôi chưa nhiều, chưa chặt chẽ, nhiều hộ còn gặp khó khăn trong việc ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp chế biến. Nguyên nhân đến từ cả 2 phía, doanh nghiệp và hộ nuôi. Có trường hợp doanh nghiệp không tái đầu tư cho người nuôi vụ kế tiếp, song cũng có trường hợp hộ nuôi tự ý phá hợp đồng, bán sản phẩm ra bên ngoài khi thấy được giá dẫn đến tình trạng trên.

Con giống cũng là vấn đề cần được tháo gỡ ngay nếu muốn đạt được mục tiêu đề ra cho ngành cá tra năm 2017. Hiện nay, cá tra giống đang thiếu hụt nghiêm trọng tại ĐBSCL. Hiệp hội Cá tra Việt Nam cũng thừa nhận tình hình thiếu hụt cá tra giống là có thật. Nguyên nhân do giá cá tra giống sụt giảm mạnh vào cuối năm 2016 đã khiến nhiều trại ương đồng loạt ngừng sản xuất, chờ giá tăng, khiến sản lượng cá giống sụt giảm đột ngột. Đến khi giá cá tăng trở lại thì sản xuất không kịp cung ứng cho thị trường. Cộng thêm những diễn biến không thuận lợi của thời tiết trong những tháng đầu năm 2017 lại càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình sản xuất cá giống.

Cùng với đó, các nhà khoa học cũng chỉ ra vấn đề tồn tại hiện nay của các cơ sở ương nuôi cá tra giống, đó là tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi cá tra giống đang giảm. Hiện sản lượng cá tra bột toàn vùng ĐBSCL đã tăng vọt từ gần 500 triệu con vào năm 2000 lên hơn 30 tỉ cá tra bột, trong khi đó sản lượng cá tra giống hiện nay chỉ hơn 2 tỉ con. Điều này cho thấy sản lượng cá bột tăng nhưng cá giống không tăng. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trước hết là do mật độ ương quá cao nên thức ăn tự nhiên ban đầu cho cá bột không đủ, môi trường ao ương không đảm bảo.

Tháo Gỡ Khó Khăn

Có thể nói tình hình quy hoạch nuôi chắc chắn sẽ được cải thiện sau khi các địa phương hoàn thành quy hoạch vùng nuôi, từ đó chấn chỉnh dần hoạt động thả nuôi của người dân, không để tái diễn hiện tượng tự phát, mạnh ai nấy làm như thời gian vừa qua. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn cần phải tăng cường hơn nữa liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp và người nuôi hợp tác hiệu quả, bền vững để đạt mục tiêu cùng có lợi.

Đối với vấn đề con giống và vật tư, cơ quan quản lý nhà nước cần có thêm các chính sách hỗ trợ các cơ sở sản xuất giống cá tra mở rộng quy mô, giúp các doanh nghiệp tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật để nâng cao chất lượng con giống, kiểm tra, kiểm soát chất lượng con giống chặt chẽ hơn. Cần phải hoàn thiện quy trình kỹ thuật ương giống, nâng cao năng lực quản lý, cần có sự hỗ trợ tích cực từ ngành chức năng và sự liên kết giữa nông dân và nhà khoa học. Các nhà cung cấp thức ăn thủy sản, thuốc thú y thủy sản cũng cần liên kết chặt hơn với doanh nghiệp chế biến và người nuôi cá để phân phối lợi nhuận hợp lý và chia sẻ rủi ro trong chuỗi sản xuất.

Về thị trường tiêu thụ, hiện nay Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất cho mặt hàng cá tra của Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc được dự báo sẽ sớm vượt qua Mỹ để trở thành thị trường nhập khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam. Theo nhận định của Hiệp hội Cá tra, tuy đang có mức tăng trưởng khá cao, song Trung Quốc vẫn luôn được đánh giá là thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Không chỉ rủi ro trong hoạt động mua bán, thị trường Trung Quốc cũng ngày càng khó tính về chất lượng sản phẩm. Hiện thị trường Trung Quốc đã bắt đầu xiết chặt các quy định về quản lý chất lượng cá tra nhập khẩu. Do đó, các doanh nghiệp cũng cần chú ý điều này.

Cần đa dạng hóa hơn nữa các sản phẩm cá tra xuất khẩu, đặc biệt là các sản phẩm chế biến và sản phẩm giá trị gia tăng cao. Theo nhận định của ngành hải quan, cá tra năm 2016 xuất khẩu với 35 loại sản phẩm. Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là cá tra đông lạnh, chiếm đến 99,2% kim ngạch; còn lại tỷ lệ quá nhỏ cá tra chế biến (cá tra tẩm gia vị, cá tra tẩm bột, cá tra cuộn hoa hồng và cá tra xiên que…). Một nghiên cứu của các chuyên gia ở Khoa Công nghệ thực phẩm (Trường ĐH Nông lâm TPHCM) cho biết, thịt phi lê chỉ chiếm khoảng 36% trọng lượng con cá. Còn lại 64% trọng lượng con cá thường được gọi là phụ phẩm, thậm chí là phế phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chưa được quan tâm chế biến thành sản phẩm có chất lượng. Với sản lượng cá tra một năm trên 1 triệu tấn, tiềm năng chưa được khai thác còn rất lớn.

Để làm được điều này, các doanh nghiệp chế biến cần đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm theo hướng bền vững, gia tăng giá trị cho các sản phẩm chế biến. Cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ, các doanh nghiệp cũng cần tự nhận thức tầm quan trọng của việc cải tiến công nghệ nếu muốn tiếp tục tồn tại và phát triển trong bối cảnh hiện nay.

Khó Khăn Cho Cá Ngừ Việt Nam Xuất Khẩu Sang Nhật Bản

Nhật Bản là thị trường trọng điểm và đầy tiềm năng của thủy sản Việt Nam nói chung và cá ngừ nói riêng, đồng thời là bạn hàng lớn và khá ổn định đối với các sản phẩm cá ngừ Việt Nam trong nhiều năm qua, với giá trị NK khá cao, đứng thứ 3 sau Mỹ và EU.

Những năm trước đây, giá trị XK cá ngừ Việt Nam sang Nhật Bản chỉ chiếm chưa đến 10% tổng giá trị XK cá ngừ của cả nước nhưng từ đầu năm nay, Nhật Bản đã vượt qua EU và vươn lên vị trí thứ 2 sau Mỹ về giá trị NK cá ngừ từ Việt Nam, chiếm tới 20% tỷ trọng XK của ngành cá ngừ nước ta.

Nhật Bản là quốc gia có sức tiêu thụ hàng hóa mạnh và là một thị trường lớn đối với hàng thủy sản. Đây là một trong những thị trường NK cá ngừ tươi và đông lạnh lớn nhất thế giới. Do nguồn nguyên liệu cá ngừ khai thác nội địa không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước ngày càng cao nên Nhật Bản phải NK cá ngừ từ nhiều nguồn khác, trong đó có Việt Nam.

Theo Hải quan Việt Nam, đến giữa tháng 5/2012, giá trị XK cá ngừ Việt Nam sang các thị trường thế giới đạt gần 200 triệu USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2011, riêng giá trị XK sang Nhật Bản đạt gần 34 triệu USD, chiếm 17% tỷ trọng và tăng 52,3%. Đây là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng giá trị XK cao trong giai đoạn này, chỉ đứng sau mực và bạch tuộc.

Tuy nhiên, nếu xem xét riêng tháng 4/2012 và nửa đầu tháng 5/2012, Nhật Bản đã giảm giá trị NK cá ngừ Việt Nam lần lượt là 18,3% và 14,5% so với cùng kỳ năm 2011. Phải chăng sự sụt giảm giá trị NK này một phần do ảnh hưởng của việc Nhật Bản tăng cường kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm về các chỉ tiêu trên sản phẩm thủy sản XK của Việt Nam?

Thông tin gần đây cho biết. Nhật Bản kiểm tra Ethoxyquin trong tôm Việt Nam với mức giới hạn tối đa 10 ppb (0,01ppm), trong khi không thực hiện quy định này đối với tôm NK từ nước khác, đặc biệt là Thái Lan – một trong những đối thủ cạnh tranh khá mạnh của cá ngừ Việt Nam tại Mỹ, Nhật Bản, EU…

Đây là một sự đối xử không công bằng và không hợp lý bởi biện pháp siết chặt kiểm tra của cơ quan quản lý Nhật Bản sẽ ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động XK mặt hàng tôm Việt Nam mà còn ảnh hưởng và gây khó khăn cho cả các mặt hàng thủy sản XK khác của Việt Nam như cá ngừ khi vào thị trường này. Điều này cũng còn tác động trực tiếp uy tín và sức cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới, kéo theo sự giảm sút nghiêm trọng giá trị XK. Cần lưu ý rằng, người tiêu dùng Nhật Bản vốn rất kỹ tính khi lựa chọn thực phẩm và nếu phát hiện hàng hóa có vấn đề về an toàn vệ sinh thực phẩm, họ rất e ngại khi mua hàng.

Sản phẩm cá ngừ Việt Nam được thị trường Nhật Bản đánh giá cao về chất lượng. Tuy nhiên, do hoàn toàn dựa vào khai thác tự nhiên nên sản lượng, chất lượng và giá thành không ổn định, vì vậy khả năng tăng trưởng của sản phẩm này phần nào bị hạn chế.

Theo Hiệp định Hợp tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) có hiệu lực từ cuối năm 2009, hàng hóa Việt Nam XK sang Nhật Bản và ngược lại, hàng hóa Nhật Bản XK sang Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi về thuế. Tuy nhiên, so với các nước cạnh tranh khác về cá ngừ như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia…, cá ngừ Việt Nam vẫn “yếu thế” hơn vì Việt Nam ký Hiệp định Hợp tác song phương với Nhật Bản muộn hơn nên lộ trình giảm thuế sẽ chậm hơn. XK cá ngừ sang Nhật Bản của các nước láng giềng đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi khiến sản phẩm cá ngừ Việt Nam bị cạnh tranh mạnh hơn. Hiện nay các DN XK cá ngừ Việt Nam vẫn đang phải chịu mức thuế cao hơn 40% so với các nước này, tương đương 7,2% khi XK sang thị trường Nhật Bản, thậm chí cũng không được cắt giảm hàng năm đến 0% như những nước này. Và đây cũng là một trong những bất lợi của sản phẩm cá ngừ Việt Nam XK sang Nhật Bản, dẫn đến khó có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực tại thị trường này.

Để tăng cường XK cá ngừ vào Nhật, DN Việt Nam cần kiên trì tìm hiểu kỹ đối tác và tạo điều kiện để họ hiểu được mình. Chất lượng sản phẩm sẽ là yếu tố quan trọng giúp duy trì mối quan hệ kinh doanh lâu dài với các đối tác Nhật Bản, vì thế DN phải giữ vững chất lượng hàng hóa xuất sang Nhật, nhất là với mặt hàng thủy sản và cụ thể là cá ngừ.

Và để duy trì thế đứng vững vàng trên thị trường Nhật Bản, các nhà XK cá ngừ Việt Nam cần có một chiến lược kinh doanh với tầm nhìn sâu rộng, thông qua nghiên cứu thị trường một cách kỹ lưỡng, đầy đủ và tạo được hình ảnh đáng tin cậy cho các sản phẩm cá ngừ XK sang đất nước Hoa Anh Đào.

Nguồn: http://www.vasep.com.vn

Cá Tra Rớt Giá Khiến Người Dân Miền Tây Gặp Khó Khăn Trong Việc Tiêu Thụ

Do ảnh hưởng dịch Covid-19 từ đầu năm 2020 đến nay khiến nhiều thị trường trên thế giới giảm nhập khẩu cá tra, từ đó kéo theo giá cá rớt liên tục và khó tiêu thụ khiến người nuôi cá tra ở ĐBSCL tiếp tục rơi vào cảnh khó khăn.

Là hộ nuôi cá tra đã nhiều năm, nhưng chưa bao giờ ông Nguyễn Văn Tấn, ở xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, rơi vào cảnh lận đận như hiện nay. Ông kể, trước Tết Nguyên đán 2020, gia đình ông còn nợ các đại lý thức ăn hơn 2,7 tỉ đồng. Nguyên nhân là do cách nay khoảng 7 năm ông tham gia sản xuất cá tra theo chuỗi giá trị do tỉnh An Giang vận động. Tuy nhiên, chuỗi này duy trì không lâu thì đổ vỡ đẩy hàng loạt hộ nuôi vào cảnh nợ nần… Sau đó, ông Tấn chạy đôn chạy đáo tìm vay vốn để nuôi cá trở lại, nhưng năm 2019 vừa qua tiếp tục lỗ. Vụ cá đầu năm 2020 này, ông Tấn cũng vừa bán hơn 260 tấn cá tra cho nhà máy thu mua với giá 18.300 đồng/kg, tính ra thua lỗ hơn 1,3 tỉ đồng. “Tham gia chuỗi liên kết bị đổ vỡ và bị ngân hàng giữ tài sản chưa giao lại. Gần đây phải đi hỏi nợ bên ngoài để tái đầu tư thì lỗ liên tục trong năm qua, nay mới đầu năm 2020 cũng lỗ. Tình hình này kéo dài sẽ khiến người nuôi kiệt sức…”, ông Tấn than.

Cũng đang gặp khó khăn gấp bội vì “đeo cá tra” nhiều năm nay, ông Lê Quang Vinh, nuôi 2ha mặt nước ở xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành (An Giang), thở dài: “Thông thường cá tra khoảng 0,8-1kg/con là thu hoạch bán cho các nhà máy chế biến xuất khẩu. Thế nhưng, 2ha cá của gia đình tôi nuôi kéo dài hơn 10 tháng nay, khiến cá quá lứa tới 1,8kg/con mà kêu bán mãi chẳng được. Chạy khắp nơi mới có nhà máy vừa chịu mua với giá 17.700 đồng/kg, nhưng áp dụng mua nợ (mua thiếu) đến 3 tháng mới thanh toán tiền. Tính ra lỗ bình quân 5.000-6.500 đồng/kg. Dù mức lỗ rất nặng tới vài tỉ đồng nhưng không bán không được, bởi cá đã quá lớn, càng neo thì không thể lo nỗi chi phí thức ăn mỗi ngày tới hàng chục triệu đồng…”.

Ông Nguyễn Tấn Phong, Giám đốc HTX Nuôi thủy sản Đại Thắng, xã Đại Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, cho hay: HTX có 8,5ha nuôi cá tra. Các thành viên trong HTX cũng vừa bán dứt điểm các ao cá quá lứa với giá 18.500 đồng/kg, tính ra lỗ vốn hơn 3.000 đồng/kg. Hiện tại, trong HTX cũng có gần 10 ao cá đã thu hoạch xong nhưng không thả lại mà chờ giá lên mới tính tiếp. Khi giá cá tăng thì thương lái tìm tận hầm để thu mua, nhưng khi giá cá giảm thì tìm thương lái mãi cũng không thấy. Đặc biệt, khi đến thì chê cá đủ thứ từ thịt vàng, cá chưa tới lứa hay quá cỡ, chưa kể là mua thiếu vài tháng mới trả tiền. Tình trạng này làm cho người nuôi cá tra càng lo lắng, không mặn mà đầu tư cho vụ thả nuôi mới.

Tại thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp… nhiều hộ nuôi cá như ngồi trên lửa khi chứng kiến giá cá ảm đạm. Ông Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc HTX Sản xuất, dịch vụ thủy sản Châu Thành (Đồng Tháp), lo lắng: “Hiện tại, nếu là cá đẹp, doanh nghiệp chỉ mua khoảng 18.500-19.000 đồng/kg trở lại, trong khi giá thành nuôi không dưới 22.000 đồng/kg; nhưng việc tiêu thụ khó khăn và rất chậm. Đáng lo hơn là đa phần nhà máy mua cá lúc này áp dụng không trả tiền mặt, mà nợ vài tháng. Như vậy, người nuôi thiệt trăm bề…”.

Cùng với giá giảm và khó tiêu thụ thì nhiều hộ nuôi cá tra ở Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang… còn đối mặt với xâm nhập mặn tấn công gây bất lợi cho cá tra. Ông Nguyễn Văn Đạo, Chủ tịch HĐQT Công ty thủy sản Gò Đàng (Tiền Giang), chia sẻ: “Mặn năm nay về sớm, kéo dài và duy trì mức cao. Nhiều con sông ở Bến Tre, Trà Vinh và Tiền Giang có độ mặn từ 4-25‰ khiến cá tra bị tuột nhớt, bỏ ăn, nổ mắt… chết khá nhiều. Người nuôi dù biết nhưng rất khó phòng tránh, do các ao nuôi cá tra cần phải thay nước ngọt mỗi ngày để tránh ô nhiễm; trong khi ngoài sông toàn là nước mặn. Vì vậy, khi bơm vào là cá bị ảnh hưởng…”. UBND tỉnh Bến Tre cho hay, nước mặn tấn công làm 22ha nuôi cá tra ở xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) bị thiệt hại 3-4%; ngoài ra, còn có 214ha cá tra ở huyện Mỏ Cày Nam và Giồng Trôm bị ảnh hưởng…Ông Phạm Hùng Minh, Phó Giám đốc HTX Nuôi thủy sản Đại Thắng, cho biết gia đình ông cũng đã bán xong đợt cá vừa rồi và hiện còn một hầm cá có trọng lượng từ 0,3-0,4kg/con, nhưng với tình hình giá hiện nay đã phải cho ăn cầm chừng. Hiện tại, trong HTX cũng còn một số thành viên có cá nhưng chưa đến cỡ bán và đành phải cắt cử cho ăn vì giá cá nguyên liệu quá thấp. Trong khi lúc giá cá đỉnh điểm lên hơn 30.000 đồng/kg cá thương phẩm thì giá thức ăn lên mức 12.700 đồng/kg, còn hiện tại giá cá tra chỉ còn hơn 18.000 đồng/kg nhưng giá thức ăn cũng chừng ấy thì người nuôi chỉ có lỗ vốn. Trong khi để nuôi được 1kg cá thương phẩm phải tiêu tốn 1,5kg thức ăn, chưa kể tiền mua con giống, thuốc và các chi phí khác. Nếu giá cá ở mức này mà giá thức ăn không giảm thì người nuôi khó cầm cự nỗi.

Tập trung gỡ khó

Ông Dương Nghĩa Quốc, Chủ tịch Hiệp hội Cá tra Việt Nam, cho biết: “Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu cá tra của cả nước đạt hơn 2 tỉ USD, giảm 11,4% so với cùng kỳ; nguyên nhân là diện tích nuôi ở ĐBSCL tăng, nhưng thị trường xuất khẩu khó khăn dẫn đến giá trị giảm. Từ đầu năm 2020 đến nay, xuất khẩu cá tra đối mặt với thách thức mới khi dịch Covid-19 bùng phát ở nhiều nước trên thế giới.

Ông Quốc phân tích thêm, từ khi xảy ra dịch bệnh đến nay, có một số doanh nghiệp không thể đưa cá tra xuất sang Trung Quốc được, do việc tiêu thụ trì trệ, vận chuyển gặp nhiều trở ngại; chưa kể việc thu hồi tiền đã xuất khẩu trước đó cũng bị chậm. Gần đây, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp ở nhiều nước châu Âu, châu Á… đã làm tăng thêm cái khó cho đầu ra cá tra trong thời gian tới và nếu chúng ta không nhanh chóng có giải pháp hợp lý, hiệu quả thì mục tiêu xuất khẩu cá tra khoảng 2,2 tỉ USD của năm 2020 sẽ khó đạt.

Ông Nguyễn Duy Nhứt, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Nam Việt (An Giang), cho rằng: “Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cá tra đang bị giảm sản lượng 30- 40%; từ đó khiến việc tồn kho rất nhiều, tốn kém thêm chi phí bảo quản, chôn dòng vốn hoạt động, kinh doanh không hiệu quả… Khó khăn tứ phía đang vây các doanh nghiệp cá tra”. Khó là vậy, nhưng theo Hiệp hội Cá tra Việt Nam, một điểm cần lưu ý là kim ngạch xuất khẩu cá tra sang Hoa Kỳ tháng 1-2020 đạt hơn 18,1 triệu USD, dù giảm 55% so cùng kỳ nhưng lại chiếm tỷ lệ 17,8% về tổng giá trị, cao nhất so với các thị trường khác. Nguyên nhân do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ vừa công bố chính thức công nhận hệ thống quản lý và giám sát cá tra của Việt Nam tương đương với Hoa Kỳ, tạo điều kiện thuận lợi hơn để doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu cá tra sang Hoa Kỳ trong thời gian tới. Song, không thể trông chờ quá nhiều vào Hoa Kỳ, mà chúng ta cần cấp bách thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nỗ lực duy trì các thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới trong điều kiện cho phép, kể cả gia tăng ở thị trường nội địa.

“Cùng với giải pháp thị trường thì ngành chức năng cần triển khai ngay việc xem xét giảm thuế, miễn thuế cho doanh nghiệp xuất khẩu cá tra; đơn giản các thủ tục hành chính, không áp dụng kiểm tra hoạt động thời điểm này; nhất là kéo giãn thời gian nộp bảo hiểm xã hội… Các ngân hàng nghiên cứu giảm nợ, khoanh nợ, giảm lãi suất để chia sẻ khó khăn cùng doanh nghiệp xuất khẩu…”, ông Nguyễn Duy Nhứt, kiến nghị.

Tại Hậu Giang, diện tích nuôi cá tra hiện tại là 28,7ha, tập trung chủ yếu ở thành phố Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp. 2 tháng qua, người nuôi cá tra đã thu hoạch 620 tấn bán cho thương lái đều dưới giá thành sản xuất. Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang cho biết trong năm 2020 ngành nông nghiệp tỉnh và các địa phương sẽ phát triển đồng bộ, toàn diện các vùng, khu vực nuôi thủy sản phù hợp, các vùng nuôi thâm canh ứng dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại, nuôi an toàn sinh học, bảo vệ môi trường. Ngoài ra, tiếp tục áp dụng các quy trình nuôi tiêu chuẩn vào sản xuất, đáp ứng yêu cầu thị trường. Tổ chức lại sản xuất cá tra theo hướng hình thành các tổ chức liên kết sản xuất, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia chuỗi sản xuất. Tăng cường công tác quản lý các nguồn thức ăn, hóa chất, chế phẩm sinh học dùng trong nuôi thủy sản, góp phần giảm giá thành sản xuất, bảo vệ môi trường; quản lý tài nguyên nước, môi trường; quản lý, kiểm soát chất lượng con giống, thức ăn, chế phẩm, hóa phẩm và các vật tư khác, duy trì ổn định vùng nguyên liệu xuất khẩu…

Ngành Cá Cảnh Việt Nam: Nhiều Lợi Thế Để Tiến Xa – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Nghề kinh doanh và thú chơi cá cảnh đã hình thành từ lâu ở Việt Nam, tuy nhiên nó mới chỉ mang tính tự phát. Qua tìm hiểu, giao lưu tham gia triển lãm cá cảnh của các cơ sở sản xuất, kinh doanh với một số nước trên thế giới, cá cảnh Việt Nam đã nhận được sự ưa chuộng.

Ngày nay, đất nước phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng, một số doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh đã chủ động đưa cá cảnh Việt Nam thâm nhập vào thị trường quốc tế.

Riêng đối với TP Hồ Chí Minh thì sao, thưa ông?

Nhìn chung, nghề nuôi, sản xuất cá cảnh ở TP Hồ Chí Minh có từ rất lâu và từng có thời kỳ giữ vai trò nhất định ở khu vực Đông Nam Á. Đầu năm 1975, do hậu quả chiến tranh, điều kiện kinh tế nước ta quá khó khăn, mọi tiềm lực dồn cho việc khôi phục đất nước, chú trọng phát triển các ngành công, nông nghiệp nên nghề nuôi, sản xuất, kinh doanh cá cảnh dần dần giảm sút.

Những năm gần đây, mức sống của người dân thành phố ngày càng phát triển, nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc cơ bản đã được giải quyết thì việc vui chơi, sản xuất, kinh doanh cá cảnh bắt đầu nhộn nhịp trở lại và có chiều hướng phát triển. Người dân trong nghề nuôi cá cảnh đã chủ động tìm, cải tạo giống lạ – đẹp và tìm thị trường nước ngoài cho cá cảnh.

Trên địa bàn thành phố có khoảng 200 hộ làm nghề nuôi, sản xuất cá cảnh, tập trung nhiều ở các quận 8, 12, Gò Gấp, Bình Thạnh, huyện Bình Chánh, Củ Chi và rải rác ở quận 9. Gần 100% các hộ sản xuất cá cảnh nước ngọt với diện tích 15 – 20 ha mặt nước ao nuôi, 25.000 – 30.000 m2 bể xi măng và khoảng 3.000 m2 bể kiếng. Hàng năm, số lượng sản xuất và tiêu thụ khoảng 90 triệu con. Doanh số bình quân hằng năm mỗi hộ 80 – 100 triệu, thấp nhất là 20 triệu đồng, cao nhất là 300 triệu đồng.

Đối tượng sản xuất được xếp vào hai loại chính là: Cá đá (xiêm, lia thia, phướn…) và cá làm cảnh (được xếp làm 3 nhóm: Nhóm cá đại trà có nhiều hộ sản xuất: Bảy màu, hồng kim, hắc kim, tỳ bà, ông tiên, ba đuôi, tai tượng Phi Châu; Nhóm cá ít hộ sản xuất: Cá dĩa, cá la hán, chép Nhật…; Nhóm mới khai thác tự nhiên làm cảnh: Cá nàng hai (còm), nâu, long tong, sặc…)

Hiện, trên địa bàn thành phố có khoảng 100 – 120 cửa hàng và địa điểm buôn bán lẻ cá cảnh. Trong đó phải kể đến là chợ cá cảnh Lưu Xuân Tín ở quận 5 và Nguyễn Thông ở quận 3, Cộng Hòa ở Tân Bình. Ngoài ra, rải rác ở các quận, huyện khác trong thành phố như quận Thủ Đức, quận 9, huyện Bình Chánh.

Sản xuất cá cảnh ở Việt Nam chủ yếu do tự phát – Ảnh: CTV

Theo ông, tiềm năng để phát triển ngành cá cảnh Việt Nam nói chung, TP Hồ Chí Minh nói riêng là gì?

Việt Nam là quốc gia nằm trong 3 khu vực (Nam Mỹ, Phi Châu và Đông Nam Á) có nguồn cá cảnh nổi tiếng của thế giới. Khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam thích hợp phát triển nhiều loài cá cảnh nội địa và nhiều loài cá đẹp quý hiếm (cả nước mặn và ngọt). Và, hầu như các loại cá cảnh trên thế giới đều đã có ở Việt Nam.

Riêng đối với thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành cá cảnh. Trước hết phải kể đến là khí hậu nhiệt đới nên có thể sản xuất được nhiều loài cá cảnh và sản xuất được quanh năm. Thức ăn tự nhiên – nguồn thực phẩm thiết yếu của nhiều loài cá cảnh, dồi dào trong các hệ thống sông rạch. Giá thành sản xuất thấp do giá nhân công, thức ăn và chi phí khấu hao trang thiết bị thấp (vì sản xuất được quanh năm).

Thêm vào đó, với vị trí là trung tâm kinh tế năng động, TP Hồ Chí Minh có lợi thế trong việc xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại. Ngoài ra, đây cũng là nơi tập trung đông nghệ nhân nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh và yêu nghề…

Với những tiềm năng này, liệu ngành cá cảnh Việt Nam có thể phát triển như các quốc gia khác, chẳng hạn như Singapore, Malaysia… không, thưa ông?

Ngành cá cảnh Việt Nam có thể phát triển mạnh như Singapore, Malaysia nếu chúng ta thực sự quan tâm và xác định đúng hướng, vì Việt Nam hội đủ các yếu tố về điều kiện tự nhiên, vùng phân bố của các loài cá cảnh.

Đồng thời cũng cần phải có sự đầu tư thích đáng về chính sách, hoạch định, phải có chiến lược phát triển cho nghề cá cảnh. Trong đó cần chú ý đến các yếu tố về giống, bảo tồn gen, lai tạo và chủ động hội nhập thị trường.

Vậy còn những khó khăn, thách thức thì sao?

Bên cạnh những thuận lợi, ngành cá cảnh Việt Nam vẫn còn gặp phải một số khó khăn như: Chưa nắm bắt và đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của các thị trường châu Âu và Mỹ. Sản xuất không ổn định do phát triển tự phát. Thiếu thông tin về khoa học kỹ thuật, nhất là thông tin về thị trường đối với các nhà sản xuất mới. Sản xuất quy mô nhỏ, riêng lẻ, nhất là sản xuất thiếu kế hoạch sẽ không đáp ứng được nhu cầu thị trường cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Vấn đề ô nhiễm nguồn nước, đô thị hóa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển. Việc xuất khẩu qua trung gian gây nhiều thiệt hại, rủi ro cho nhà sản xuất, kinh doanh. Các thị trường lớn như châu Âu, Mỹ luôn có các hàng rào kỹ thuật nhằm hạn chế việc xuất khẩu của các nước khác.

Để đưa ngành cá cảnh Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng, theo ông cần phải làm gì?

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước nên có trách nhiệm quản lý, kiểm soát, định hướng, hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh nhập các giống mới phục vụ nghiên cứu sản xuất con giống… 

Thứ hai, phổ biến, xúc tiến thương mại thị trường trong nước và xuất khẩu. Công tác nghiên cứu thị trường, đặc biệt là thị hiếu người tiêu dùng cần được quan tâm. Thường xuyên tổ chức tham gia các hội thi về cá cảnh trong và ngoài nước nhằm quảng bá sản phẩm, tạo đầu ra cho người nuôi cá cảnh, giới thiệu sản phẩm cá cảnh cho các thị trường xuất khẩu.

Thứ ba, tăng cường nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, chuyên thực hiện việc nghiên cứu, lai tạo giống cá cảnh mới.

Thứ tư, có chính sách cho phép các trung tâm nghiên cứu, khu nông nghiệp công nghệ cao chủ động nhập các giống mới về lai tạo và xuất khẩu các giống cá cảnh ngoại lai nhưng không được tiêu thụ thị trường trong nước do ngại ảnh hưởng cân bằng sinh thái.

Thứ năm, xây dựng kho tư liệu về dịch tễ nhằm kiểm soát và khống chế dịch bệnh từng vùng, từng loài khi xảy ra dịch bệnh; Phát triển các kỹ thuật chuẩn đoán, điều trị và kiểm soát dịch bệnh trên cá cảnh, đảm bảo các vấn đề an ninh sinh học trong việc nuôi cá cảnh.

Thứ sáu, Nhà nước phải có chính sách thỏa đáng để khuyến khích phát triển, có chiến lược phát triển và tích cực tạo nên các yếu tố pháp lý kỹ thuật để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá cảnh có điều kiện tiếp cận thị trường mới.

Ngoài ra cũng nên miễn thuế nhập giống cá cảnh. Và cuối cùng cũng cần rà soát các văn bản quản lý động vật ngoại lại cho phù hợp với việc kinh doanh cá cảnh.

Bạn đang xem bài viết Tháo Gỡ Khó Khăn Cho Ngành Cá Tra Việt Nam trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!