Xem Nhiều 2/2023 #️ Sử Dụng Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Rô Đồng – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 7 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 2/2023 # Sử Dụng Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Rô Đồng – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sử Dụng Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Rô Đồng – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tập tính ăn của cá rô đồng

Rô đồng là loài cá nước ngọt, tốc độ sinh trưởng tương đối chậm. Cá có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống được trong điều kiện thiếu ôxy tạm thời nhưng mặt nước phải thoáng. Cá có thể di chuyển trên cạn tương đối xa. Cá rô đồng là loài ăn tạp và dễ tính trong lựa chọn thức ăn. Chúng có thể ăn các loại hạt mầm, thực vật non mềm, các loại động vật hợp cỡ như tép, giun… và thích thức ăn hỗn hợp dạng viên. Cá có thể ăn nổi trên mặt nước, trong tầng nước và cả đáy ao. Việc sử dụng thức ăn công nghiệp nuôi cá đem lại hiệu quả cao bởi giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước so với thức ăn chế biến, đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng dành cho cá.

Sử dụng thức ăn công nghiệp

Tuy trong tự nhiên cá rô đồng là loài ăn tạp nhưng lại thiên về động vật nên thức ăn cho cá rô đồng có lượng đạm khá cao. Người nuôi có thể sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi có hàm lượng và kích cỡ viên phù hợp từng giai đoạn phát triển của cá.

Tháng nuôi đầu, dùng thức ăn có độ đạm 35 – 40%, cỡ viên nhỏ hơn 1mm, một ngày cho ăn với lượng 7 – 10% tổng trọng lượng cá. Cho cá ăn 3 – 4 lần/ngày.

Tháng nuôi thứ 2 và 3, dùng thức ăn có độ đạm 30 – 35%, cỡ viên nhỏ hơn 2mm, cho ăn lượng 5 – 7% trọng lượng cá/ngày.

Tháng nuôi thứ 4 và 5, dùng thức ăn có độ đạm 25 – 30%, cỡ viên nhỏ hơn 2,5mm, cho ăn lượng 3 – 5% trọng lượng cá/ngày. Cho cá ăn 2 lần/ngày, nên quan sát lượng thức ăn để điều chỉnh cho phù hợp, tránh thừa thức ăn.

Chú ý: Quản lý thức ăn tốt để giữ nước ao luôn sạch giúp cá phát triển tốt.

Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Nước Lạnh – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Tình hình sử dụng

Nghề nuôi cá nước lạnh được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I khởi động năm 2005 tại Sa Pa (Lào Cai). Đến nay, sau 6 năm thử nghiệm, phong trào nuôi đã phát triển mạnh ở hơn 14 tỉnh; điển hình là Lào Cai, Lâm Đồng, Lai Châu, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La. Năm 2012, sản lượng cá nước lạnh cả nước đã đạt 800 tấn. Cùng với việc nhập khẩu con giống, mỗi năm nước ta vẫn phải nhập thêm thức ăn cho cá nước lạnh từ Pháp, Hà Lan… Năm 2011, Việt Nam đã nhập khoảng 350 tấn, năm 2012 hơn 400 tấn. Giá nhập khẩu thức ăn khoảng  trên 50.000 đồng/kg.

Đặc điểm dinh dưỡng

Cá tầm và cá hồi là hai loài cá nước lạnh được nhập vào nuôi ở nước ta, sống thích hợp ở nhiệt độ 15 – 230C đối với cá hồi và 23 – 300C đối với cá tầm. Trong tự nhiên, hai loài cá này được xếp vào loài ăn động vật, lúc nhỏ ăn ấu trùng, giáp xác nhỏ; khi lớn ăn tôm cua, nhuyễn thể, côn trùng và cả cá con. Trong điều kiện nuôi nhân tạo, thức ăn của chúng là cám công nghiệp dạng viên chìm, có độ đạm và chất béo cao. Nhu cầu đạm 40 – 70%, chất béo 20 – 30%, cá càng lớn thì nhu cầu đạm càng cao, còn nhu cầu chất béo thì ngược lại. Đối với nuôi thương phẩm, cá hồi và cá tầm giống thường nuôi trong các bể xi măng, composite hoặc lót bạt có dòng chảy nhẹ, hàm lượng ôxy 6 mg/l trở lên. Cá tầm và cá hồi không phải loài phàm ăn nên trong quá trình sản xuất thức ăn nên tính đến khả năng lan tỏa thức ăn trong nước để tránh thất thoát dinh dưỡng thức ăn.

Người nuôi cá nước lạnh cần lựa chọn tốt loại thức ăn cho cá và có cách cho ăn hợp lý – Ảnh: Huy Hùng

Phương pháp cho ăn

Giai đoạn giống, do đặc tính sống ở môi trường nước chảy và mật độ thả dày (800 – 1.000 con/m3 nước) nên cá giống cần phải cho ăn liên tục 4 giờ/lần, thức ăn được chia đều cho các lần cho ăn; Liều lượng hằng ngày chiếm 6 – 10% trọng lượng thân cá. Giai đoạn này thức ăn phải có các cỡ khác nhau, từ dạng mảnh vụn đến 2mm.

Khi cho ăn, nên vặn nhỏ van cấp nước, sau đó mới rải đều thức ăn lên mặt bể, để cá được ăn đều, tránh hiện tượng cá còi. Sau 15 phút cá ăn hết thức ăn thì duy trì lưu tốc dòng nước trở lại, cần kiểm tra xem cá đã ăn hết thức ăn hay chưa, để điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý. Ở giai đoạn giống cá rất nhạy cảm với nhiệt độ nước, nếu nhiệt độ cao hơn ngưỡng thích hợp, cần giảm 50% lượng thức ăn và dâng nước trong bể cao hơn bình thường 20 – 30cm (nếu có thể); đồng thời, tăng lưu tốc dòng chảy 10 – 15% so với bình thường để kích thích hoạt động cho cá. Giai đoạn này, muốn cá khỏe mạnh và tỷ lệ sống cao, người nuôi cần chọn mua loại thức ăn chuyên dụng nhập từ Hà Lan, tuy giá cao hơn nhưng thức ăn đảm bảo chất lượng, đủ thành phần dinh dưỡng, các axit amin và vitamin thiết yếu giúp cá sinh trưởng và phát triển tốt.

Cá tầm là loài cá ăn chìm dưới đáy, khi nuôi trong ao, bể thì cho ăn như nuôi cá hồi, trong thời gian nuôi cần chú ý khi trời mưa nước cấp vào bể nuôi sẽ bị đục nên cần ngưng không cho cá ăn, nếu mưa kéo dài cần giảm thức ăn 20 – 30% so bình thường.

Cá tầm nuôi ngoài lồng trên hồ chứa, do tính chất lồng nuôi rộng, sâu (5 – 7 m) và có dòng chảy  nên khi cho cá ăn cần sử dụng ống nhựa dài bằng độ sâu của lồng, đường kính 30cm. Khi cho ăn, người nuôi nên đứng ở thành lồng, cắm ống nhựa xuống nước cách đáy 1,5 – 2m, sau đó đổ thức ăn qua phễu vào ống nhựa để thức ăn theo ống xuống đáy lồng, giúp cá ăn được hết thức ăn, tránh lãng phí do bị phát tán ra bên ngoài hoặc trôi theo dòng chảy.

Do thức ăn cho các đối tượng thường là những loại thức ăn có hàm lượng protein và lipid cao hơn nhiều so với thức ăn của các loại cá bình thường, cùng điều kiện khí hậu khi mưa nắng thất thường, không khí có độ ẩm cao, nên người nuôi phải chú ý bảo quản thức ăn, tránh hiện tượng thức ăn bị ẩm mốc, cá ăn vào dễ ngộ độc.

Hãy Sử Dụng Nguồn Bột Cá Bền Vững – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Sử dụng bột cá để nuôi thủy sản không có nghĩa sẽ khiến ngành thủy sản đó kém bền vững. Những mối quan ngại về sự kém bền vững mơ hồ này sẽ được giải quyết khi chúng ta sử dụng sản phẩm bột cá sản xuất có trách nhiệm và đạt tiêu chuẩn “nguồn cung bền vững”.

Vai trò của nguyên liệu thức ăn từ cá biển với ngành thủy sản bền vững bị làm lu mờ hoặc bóp méo bởi các chiến dịch bảo vệ nguồn lợi biển của các tổ chức bảo vệ môi trường biển. Nhưng cần phải lưu ý rằng, không phải nguồn nguyên liệu thức ăn từ cá biển nào cũng thiếu bền vững. Điều quan trọng là trại nuôi và hãng sản xuất thức ăn lựa chọn được nguồn cá biển được quản lý khai thác tốt; có chiến lược sử dụng bột cá để mang lại lợi ích kinh tế; đồng thời vẫn đảm bảo sự bền vững cho ngành NTTS. Nhu cầu tiêu thụ bột cá đang vượt nguồn cung nhưng từ thập kỷ trước. Bức tranh dầu cá còn phức tạp hơn, nhưng sự phát triển của ngành thủy sản hoàn toàn không bị hạn chế bởi nguồn cung dầu cá hay bột cá; mặc dù giảm sử dụng dầu cá, thì chất lượng thịt (fillet) một số loài như cá hồi sẽ đi xuống.

Nhận thức được những lo ngại đó, IFFO đã xây dựng Ủy ban hướng dẫn kỹ thuật với thành viên là các công ty trong ngành và các tổ chức môi trường biển NGOs. Hai năm qua, các nhóm nghiên cứu này đã xây dựng được Tiêu chuẩn toàn cầu IFFO dành riêng cho nguồn cung bột cá, dầu cá trách nhiệm (IFFO RS). Bộ tiêu chuẩn cũng đặt ra yêu cầu về sản xuất trách nhiệm với các nhà máy bột cá từ nguồn nguyên liệu tươi sống (cá nguyên con hay sản phẩm phụ) tới thực hành sản xuất tại nhà máy. Một nhà máy đạt tiêu chuẩn IFFO RS phải trải qua quá trình kiểm tra nghiêm ngặt và đáp ứng được các tiêu chuẩn từ bên kiểm định độc lập thứ 3. Đây cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp người nuôi thủy sản trên toàn thế giới yên tâm sử dụng bột cá, dầu cá mà không còn lo ngại vấn đề bền vững nguồn lợi và môi trường. Điều này còn quan trọng hơn khi người nuôi tìm đến các sản phẩm đạm thực vật hoặc phụ gia thay thế mà vẫn còn hoài nghi về tính hiệu quả của nó.

Đặc Sản, Dễ Nuôi – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Cá hô – đối tượng thủy sản có giá trị cao Ảnh: PTC

Đặc điểm sinh học

Cá hô thuộc họ cá chép Cyprinidae và có tên khoa học là Catlocarpio siamensis. Phần trước thân của cá hơi tròn và cao, phần sau dẹp bên; Cao thân khoảng 1/3 dài chuẩn; Đầu rất to, đỉnh đầu rộng, giữa mắt và mõm của phần lưng đầu lõm xuống; cá không có râu, khe mang rộng, thân phủ vảy tròn to; Đầu và lưng có màu nâu xám hoặc ánh xanh, nhạt dần xuống bụng trắng bạc; Mắt cá to, vảy to, vây lưng cao, gốc vây lưng, vây hậu môn có phủ vảy nhỏ. Bụng màu trắng bạc, các vây hơi phớt hồng, cuối các tia vây màu đen. Cá hô thường sinh sống ở những hố lớn cạnh bờ những dòng sông lớn, nhưng chúng cũng có thể bơi vào những kênh, rạch, sông nhỏ để kiếm thức ăn trong một số thời điểm. Chúng phân bố chủ yếu tại Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt  Nam (phân bố ở Châu Đốc, sông Mê Kông). Người ta đã bắt được cá hô dài tới 3 m, nặng khoảng 300 kg; ở Việt Nam thỉnh thoảng đánh bắt được cá hô loại 100 – 200 kg. Cá hô là loài ăn tạp, thức ăn của chúng có thể là thực vật phiêu sinh, rong, trái của thực vật trên cạn, thực vật thủy sinh và các động vật không xương sống thủy sinh…

Cho lãi lớn

Cá hô tuy là loài quý hiếm, trước đây cá chủ yếu là đánh bắt nhưng thời gian gần đây người dân ở miền Tây đã nuôi rất thành công giống cá này trong ao. Cá có thể trọng lớn, thịt thơm ngon, vị ngọt và dai nên rất được ưu chuộng trên thị trường và được các nhà hàng lớn thu mua. Cá hô đạt 4 – 6 kg/con trên thị trường có giá khoảng 80.000 – 120.000 đồng/kg, tuy nhiên có thể lên đến 1 – 2 triệu đồng/kg đối với cá 30 kg trở lên. Từ năm 2005, nước ta đã cho sinh sản nhân tạo thành công loài cá quý này tại Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, tiếp đến Trung tâm Giống thủy sản An Giang cũng đã sản xuất nhân tạo thành công giống cá này. Nhờ chủ động được nguồn giống nên nghề nuôi cá hô phát triển mạnh ở nhiều địa phương của nước ta như An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang…

Cá hô có thể nuôi đơn trong ao, lồng bè, đăng quầng. Với tốc độ tăng trọng 2 – 3 kg/năm, chúng có thể được nuôi đơn trong ao hoặc lồng bè với mật độ 3 – 4 con/m2; ngoài ra, còn có thể  thả ghép với các loài cá nước ngọt khác, với mật độ 10 m2/con, để tận dụng thức ăn. Ở miền Nam, cá hô có thể thả nuôi quanh năm do khí hậu ấm áp, cá phát triển tốt. Theo đánh giá của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, việc đưa cá hô vào nuôi không những mang lại giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo tồn tài nguyên quốc gia.

Bạn đang xem bài viết Sử Dụng Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Rô Đồng – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!