Xem Nhiều 2/2023 #️ Những Cần Biết Về Cá Rô Đồng # Top 2 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 2/2023 # Những Thông Tin Cần Biết Về Cá Rô Đồng # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Cần Biết Về Cá Rô Đồng mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đặc điểm chung của cá Rô đồng

Nguồn gốc và phân loại

Cá rô đồng (gọi đơn giản là cá rô) (danh pháp hai phần: Anabas testudineus) là loại cá sống ở môi trường nước ngọt, nước lợ. Chúng có thịt béo, thơm, dai, ngon, có giá trị thương phẩm cao tuy rằng hơi nhiều xương. Kích thước cực đại của chúng có thể tới 250 mm. Cá Rô đồng thuộc:

Lớp cá xương: Osteichthyes

Bộ cá vượt: Perciformes

Bộ phụ: Anabantoidei

Họ: Anabantidae

Giống: Anabas

Loài: Anabas testudineus (Boch, 1792)

Rô đồng là loài cá nước ngọt, sống ở vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam cá rô đồng rất phổ biến ở miền Nam và miền Bắc. Ngoài tự nhiên cá sống trong sông, ao, hồ, mương vườn, ruộng, ngoài ra cá có thể sống ở các cửa sông lớn, miền núi ít gặp.

Trong điều kiện nhân tạo, cá rô sống được trong bể xi măng, ao mương có diện tích nhỏ. Ngoài ra nếu cá ở nơi mát và bề mặt cơ thể được giử ẩm, cá có thể sống được ngoài không khí trong nhiều giờ nhờ có cơ quan hô hấp phụ trên mang sử dụng khí trời, đây là ưu thế trong việc vận chuyển và nuôi với mật độ cao trong ao.

Đặc điểm hình thái

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cá rô đồng có thân hình bầu dục, dẹp bên, cứng chắc. Đầu lớn, mõm ngắn. Miệng hơi trên, rộng vừa, rạch miệng xiên kéo dài đến đường thẳng đứng kẻ qua giữa mắt. Răng nhỏ nhọn. Mỗi bên đầu có hai lỗ mĩu, lỗ phía trước mở ra bằng một ống ngắn. Mắt to, tròn nằm lệch về nửa trên của đầu và gần chót mõm hơn gần điểm cuối nắp mang.

Phần trán giữa mắt cong lồi tương đương 1,5 đường kính mắt. Cạnh dưới xương lệ, xương giữa nắp mang, xương dưới nắp mang và cạnh sau xương nắp mang có nhiều gai nhỏ nhọn, tạo thành răng cưa. Lỗ mang rộng, màng mang hai bên dính nhau và có phủ vảy. Trên đầu có nhiều lỗ cảm giác.

Vảy lược phủ toàn thân, đầu và một gốc vi lưng, vi hậu môn và vi đuôi, vảy phủ lên các vi nhỏ hơn vảy ở thân và đầu. Gốc vi bụng có một vảy nách hình mũi mác.

Đường bên nằm ngang và chia làm hai đoạn: Đoạn trên từ bờ trên lỗ mang đến ngang các vi lưng cuối cùng. Đoạn dưới từ ngang các gai vi lưng cuối cùng đến điểm giữa gốc vi đuôi, hai đoạn này cách nhau một hang vảy.

Gốc vi lưng rất dài, phần gai gần bằng bốn lần phần tia mềm. Khởi điểm vi lưng ở trên vảy đường bên thứ ba và kéo dài đến gốc vi đuôi. Khởi điểm vi hậu môn ngang vảy đường bên thứ 14 – 15, gần điểm giữ gốc vi đuôi hơn gần chót mõm và chạy dài dến gốc vi đuôi. Vi đuôi tròn, không chẻ đôi. Gai vi lưng, vi hậu môn, vi bụng cứng nhọn.

Mặt lưng của đầu và thân có màu xám đen hoặc xám xanh và lựot dần xuống bụng, ở một số cá thể ửng lên màu vàng nhạt. Cạnh sau sương nắp mang có một màng da nhỏ màuv đen. Có một đốm đen đậm giữa gốc vi đuôi ngoài ra còn có một số đặc điểm đen mừo nằm rải rác trên thân.

Đặc điểm dinh dưỡng

Cá bắt đầu ăn ngoài từ ngày thứ ba, thức ăn ưa thích của cá là những giống loài động vật phù du cỡ nhỏ trong ao như bọn giáp xác râu ngành, thậm chì chúng cũng ăn cả ấu trùng tôm cá.

Khi trưởng thành cá có thể sử dụng nhiều loại thức ăn, nhưng thức ăn ưa thích của cá là động vật đáy như giun ít tơ, ấu trùng côn trùng, mầm non thuỷ thực vật. Ngoài ra cá rô cũng có khả năng sử dụng thức ăn chế biến và phụ phẩm nông nghịệp rất tốt.

Cá rô đồng là loài cá dữ, ăn tạp, nhưng thiên về động vật. Tính dữ được thể hiện khi trong đàn cá có cá chết những con sống sẽ tấn công ăn thịt con chết hoặc trong giai đoạn cá giống, khi thiếu thức ăn những con cá lớn sẽ ăn những cá nhỏ, đây là một trong những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sống của cá.

Đặc điểm sinh trưởng

Cá rô đồng có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 60 – 100g/con.

Trong điều kiện nhân tạo, cá rô đồng sống được trong bể xi măng, ao mương có diện tích nhỏ, ngoài ra nếu cá ở nơi mát và bề mặt cơ thể được giữ ẩm, cá có thể sống được ngoài không khí trong nhiều giờ nhờ có cơ quan hô hấp phụ trên mang sử dụng khí trời, đây là ưu thế trong việc vận chuyển và nuôi với mật độ cao trong ao.

Đặc điểm sinh sản

Ngoài tự nhiên cá có tính sinh sản vào mùa mưa. Đầu mùa mưa cá di chuyển từ nơi sinh sống đến những nơi vừa ngập nước sau những đám mưa lớn đầu mùa như: ruộng, ao, đìa, … nơi có chiều sâu cột nước 30 – 40 cm để sinh sản. Cá rô đồng không có tập tính giữ con.

Ở chiều dài 10 – 13 cm, cá rô đồng tham gia sinh sản lần thứ nhất, sức sinh sản cá cao đạt 30 – 40 vạn trứng/kg cá cái, trứng cá thuộc loại trứng nổi và có màu vàng. Cá đẻ 3 – 4 lần/năm.

Theo Dương Nhựt Long (2003) trứng cá rô thành thục thường có màu trắng ngà hoặc màu trắng ngà hơi vàng, đường kính trứng sau khi trương nước dao động từ 1,1 – 1,2mm và trứng cá rô thuộc loại trứng nổi. Sức sinh sản của cá cao đạt khoảng 300.000 – 700.000 trứng/kg cá cái.

Mô hình nuôi cá Rô đồng thương phẩm

Chuẩn bị ao nuôi

Diện tích tốt nhất khoảng 500 – 5.000m2, sâu 1,2 – 1,5m, giữ được nước quanh năm. Lớp bùn đáy 15 – 30cm. Quá trình cải tạo ao nuôi giống như ở phần ương cá.Cần chú ý một số điểm sau:

Do thức ăn động vật chiếm tỷ lệ cao nên môi trường dễ bị nhiễm bẩn, do đó ao nuôi phải gần nguồn nước và có cống để chủ động cấp thoát nước.

Mặt ao phải thoáng, không có bóng cây che, bờ ao không bụi rậm.

Bờ ao cao hơn mực nước cao nhất trong năm là 0,5 m nên có lưới bao quanh có chiều cao 0,8 – 1 m phòng ngừa cá ra ngoài, đặc biệt cần lưu ý trong giai đoạn cá chuẩn bị sinh sản.

Trước khi thả cá, ao phải được cải tạo bằng các biện pháp kỹ thuật như ao ương cá giống nhưng không cần phải bón phân.

Sau khi cải tạo 3 – 5 ngày tiến hành thả cá nuôi.

Chọn và thả cá giống

Kích cỡ: Cá giống nuôi thành cá thịt có kích thước 3 – 5 cm, có trọng lượng trung bình 300 – 500 con/kg. Tiêu chuẩn: Cá đồng cỡ, không xây xát, không dị hình, không bệnh tật, tương đối đồng cỡ.

Mật độ thả: Đây là loài cá có cơ quan thở khí trời nên có thể sống trong điều kiện môi trường chật hẹp; nhưng khi nuôi ở mật độ cao để cá phát triển tốt ao phải chủ động cấp thoát nước. Ao có thể thả nuôi mật độ 30 – 60 con/m2.

Thời vụ thả cá nuôi trong năm: Trong điều kiện sản xuất giống nhân tạo, cá rô có thể thả nuôi quanh năm nếu chủ động được nước và con giống, trong một ao có thể nuôi 2 vòng trong năm.

Cách thả cá:

Thả cá vào ao nuôi lúc sáng sớm hay chiều mát nhằm tránh nhiệt độ cao của môi trường sẽ ảnh hưởng xấu đến cá do cá bị mệt trong quá trình vận chuyển.

Nếu vận chuyển bằng bao nilon có bơm oxy, trước khi thả cá ra nên thả bao nilon trên mặt nước 10 – 15 phút tạo cân bằng nhiệt độ nước bên trong bao và ngoài ao nuôi tránh cá bị sốc do chênh lệch nhiệt độ. Khi thả, mở miệng bao cho cá ra từ từ.

Nếu vận chuyển bằng phương tiện hở như thau, xô … trước khi thả cho nước vào từ từ đến khi nước ngập đầy dụng cụ chứa, cho cá tự bơi ra đến hết.

Không được đứng trên bờ ao đổ cá xuống làm cá bơi hỗn loạn, do sự biến đổi đột ngột môi trường những cá yếu không thích nghi kịp có thể chết hoặc ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng khi nuôi.

Thức ăn cho cá

Tùy theo điều kiện cụ thể mà người nuôi có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tự chế. Tùy vào kích thước cá mà định lượng khẩu phần thức ăn mỗi ngày cũng như kích thước thức ăn cho phù hợp khẩu phần ăn cho cá như sau:

Thức ăn tự chế: Có thể trộn cám, bột cá với tỷ lệ 1:3 để cho ăn, khẩu phần ăn 5 – 7 % trọng lượng thân cá, hoặc có thể cho cá ăn phụ phẩm chế biến thủy sản.

Lưu ý rằng lượng thức ăn của cá rô đồng phải đảm bảo tỉ lệ đạm động vật từ 25% – 35%. Nếu thức ăn thiếu đạm, vitamin và khoáng chất cá sẽ chậm lớn và dễ bị bệnh.

Cách cho ăn: Thức ăn được kết dính bằng bột gòn hay nấu chín, vò viên và đặt trong sàn ăn. Sàn ăn được đặt cố định trong ao, nên đặt nhiều sàn ăn tránh sự cạnh tranh làm thức ăn rơi rớt do lượng cá tập trung nhiều vào một chỗ, khoảng cách giữa hai sàn ăn 5 – 7 m. Mỗi ngày cho ăn 2 lần sáng sớm và chiều mát, mỗi lần 1/2 khẩu phần ngày.

Quản lý và chăm sóc

Thường xuyên kiểm tra cống, lưới bao quanh bờ ao nếu có hư rách phải sửa vá ngay. Đặc biệt chú ý vào giai đoạn mang trứng cá có thể dùng nắp mang leo lên bờ thoát ra ngoài.

Trên mặt nước ao thả 1/10 diện tích rau muống hay bèo lục bình để hấp thu dinh dưỡng dư thừa, hạn chế ô nhiễm môi trường nước trong ao.

Hằng ngày kiểm tra tình hình ăn thức ăn của cá để điều chỉnh cho hợp lý, giống như ương cá giống.

Nước trong ao rất dễ bị nhiễm bẩn do thức ăn tạo nên, do đó tốt nhất nên thay nước hàng ngày theo thủy triều. Nếu ao xa nguồn nước định kỳ 10 – 15 ngày thay 1/2 lượng nước trong ao.

Hàng ngày kiểm tra tình hình hoạt động của cá để phát hiện sớm nếu có dịch bệnh xảy ra.

Thu hoạch

Sau 4 – 5 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 50 – 100 g/con, tiến hành thu hoạch bằng hai cách.

Thu hết một lần: tát cạn ao, bắt hết cá. Ao được cải tạo lại chuẩn bị cho việc nuôi đợt tiếp.

Thu tỉa: có thể dùng lưới kéo hay tát cạn bắt những con cá lớn có giá trị thương phẩm cao để bán, những con cá còn nhỏ để lại nuôi tiếp. Hình thức này hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn do con giống lớn, thời gian nuôi lần sau ngắn, nhưng do lượng cá còn lại ít nên chuyển sang nuôi ở một ao khác có diện tích nhỏ hơn để tận dụng ao cũ thả nuôi giống mới với số lượng lớn.

Năng suất: cá nuôi trong ao năng suất có thể đạt 15 đến 40 tấn/ha.

Các món ăn phổ biến chế biến từ cá Rô đồng

Cá Rô đồng kho khế

Nguyên liệu: 

Cá rô đồng: 500gram.

Thịt ba chỉ (ba rọi): 100gram.

Khế chua: 1 trái

Riềng xay, ớt trái.

Gia vị: Mắm, đường, hồ tiêu, dầu ăn, bột ngọt, hạt nêm.

Cách chế biến:

Cá rô đồng mổ bụng, cắt bỏ mang, đánh sạch vảy, rửa sạch sau đó lấy muối ăn xát khắp thân cá rồi rửa lại bằng nước sạch.

Sau khi sơ chế cá xong ta tiến hành ướp cá với gia vị đã chuẩn bị sẵn gồm: riềng xay nhuyễn, nước mắm, hạt nêm, bột ngọt, ướp chừng khoảng nửa tiếng là có thể mang ra nấu. Muốn có cách làm cá rô đồng kho khế ngon ta phải đảm bảo phải nêm đầy đủ gia vị và tuân thủ đúng thời gian ướp cá nha.

Khế chua rửa sạch, cắt bỏ phần đầu, phần cuống, loại bỏ viền xung quanh cánh khế, rồi xắt thành từng miếng có độ dày chừng 1 cm.

Thịt ba chỉ (ba rọi) rửa sạch, xắt thành miếng nhỏ vừa ăn. Ớt xắt từng lát nhỏ.

Bắc một cái nồi đất lên bếp đổ khoảng 3 muỗng đường vào bật lửa đun tới khi nào đường tan hết thì đổ một chút nước lọc đun tới khi sôi thì cho thịt ba chỉ vào, dùng đũa xếp thịt trải đều dưới đáy nồi.

Tiếp đến ta xếp những con cá rô đồng lên trên những miếng thịt, phần trên cùng ta xếp những lát khế và ớt xắt nhỏ. Tiếp tục đun với ngọn lửa vừa trong vòng khoảng 5 phút để cá ngấm đều gia vị.

Ta đổ nước lọc sao cho ngập mặt cá rồi nêm các loại gia vị cho hợp khẩu vị. Tiếp tục đun với ngon lửa nhỏ cho đến khi nồi cạn nước (nước sệt lại). Để món cá rô đồng kho khế hấp dẫn hơn thì khi nước kho cá sệt lại ta nên đổ thêm một lượng nước rồi tiếp tục đun để cá được nhừ ăn sẽ ngon hơn.

Đun đến khi nào nước trong nồi gần cạn lại thì ta mở nắp nồi và cứ để trên bếp đun thêm chừng 5 phút để thịt cá săn chắc lại. Khi nào chuẩn bị tắt bếp ta nên rắc thêm một ít bột hồ tiêu vào cho thơm.

Bún cá Rô đồng

Nguyên liệu:

Cá rô đồng: 400g

Cà chua: 4 quả; Gừng: 1 củ

Hành khô: 5 củ; Ớt tươi: 1 quả; Nghệ tươi (hoặc bột nghệ)

Hành hoa, thì là: 1 ít

Bún: 500g

Nước dùng xương: 1 bát tô

Rau muống: 1 mớ nhỏ

Rau thơm ăn kèm

Gia vị: Dầu ăn, mắm, mì chính, bột nêm.

Cách chế biến:

Cá rô các bạn có thể chọn mua cá còn sống về lọc xương, tách lấy thịt. Nếu bạn muốn tiết kiệm thời gian hơn thì có thể chọn mua loại cá rô đồng đã tách thịt riêng và xương xay nhỏ có bán sẵn trong các siêu thị, ăn cũng rất ngon. Cá rô đồng mua về, đánh sạch vẩy, bỏ ruột, xóc muối rửa sạch.

Cho cá rô đồng vào nồi hấp, hoặc luộc sơ. Thêm chút xíu muối. Cho cá vào cái hộp đợi nguội cho vào ngăn đá để thịt cá rắn lại như vậy khi gỡ cá sẽ không bị nát. Bóc riêng phần thịt cá ướp với chút bột nêm, gừng, bột nghệ. Phần đầu và xương cá cho vào cối giã lọc lấy nước cốt.

Hòa nước dùng xương với nước cốt cá rô đồng. (Ở đây mình dùng nước dùng gà nên nồi nước dùng có màu hơi vàng vàng).

Cà chua rửa sạch bổ múi cau. Rau thơm, hành, thì là, rau muống rửa sạch để ráo. Đây là những nguyên liệu góp phần làm cho món bún trở nên đậm đà và hấp dẫn hơn rất nhiều.

Phi thơm cà chua với chút xíu dầu ăn và hành thơm. Nêm chút bột nêm.

Cho cà chua vào nồi nước dùng

Sau đó đặt lên bếp đun sôi rồi hạ lửa nhỏ đun liu riu. Cho ít gừng thái chỉ để nồi canh không bị tanh.

Nêm nếm lại nước dùng cho vừa miệng. Chuẩn bị bát bún cá. Lần lượt đặt bún vào bát tô, thêm rau muống đã luộc, xếp ít cá rô rán và cá xào lên mặt bún rồi từ từ chan nước dùng lên trên mặt bún.

Cá Rô đồng kho tộ

Nguyên liệu: 

200 gr thịt 3 chỉ

2 con cá rô

1 củ tỏi

4 trái ớt

1 muỗng cafe tiêu đập dập

4 muỗng canh nước mắm ngon

1 viên đường thốt nốt (loại to như 2 ngón tay)

Cách chế biến: 

Trước tiên là chuẩn bị nguyên liệu, chọn cá rô đồng là ngon nhất, còn thịt lựa loại 3 chỉ chắc

Thịt rửa sạch cắt miếng trụn qua nước sôi để ráo. Cá rô làm sạch,rửa nước muối rồi rửa sạch để ráo, ướp cá với chút hạt nêm và tỏi ớt giã nhuyễn cho thấm.

Cho thịt vào xào săn

Cho 4 muỗng nước mắm ngon + 1/2 viên đường thốt nốt còn lại vào đun đến khi cạn sệt thì cho 1 chén nước.

Tiếp tục đun đến khi thịt chín mềm thì cho cá vào. Lúc này vận nhỏ lửa, tầm 15phút thì trở mặt cá, thêm 15 phút nữa. Nêm lại cho vừa khẩu vị.

Thành phẩm là miếng thịt chín mềm, phần mỡ trong veo. Cá thấm đậm béo vị nhưng không nát. Lúc này nếu thích thì chuyển sang nồi đất kho tiếp (vì nồi đất rất nhỏ, không đủ sức chứa hết phần nguyên liệu này)

Thích ăn dạng khô thì kho đến khi cạn sệt lại là xong. Múc ra rắc hành tiêu lên trên. Ăn với cơm nóng.

Những Thông Tin Cần Biết Về Cá Koi

Đặc điểm chung của cá Koi

Nguồn gốc

Cá Koi hay còn được gọi là cá chép Nhật thuộc họ cá chép và có quan hệ họ hàng gần với cá chép vàng. Nguồn gốc ban đầu của cá Koi là từ Trung Hoa. Nhưng nhờ sự lai tạo và phát triển của Nhật vào thế kỉ 20 nên cá mới có nhiều màu sắc rực rỡ như ngày nay. Năm 1914, để tôn vinh vị hoàng tử Hirohito, Nhật Bản đã tổ chức triển lãm cá chép Koi đầu tiên tại Tokyo và đảo Niigata. Từ đấy cá Koi được biết đến rộng rãi.

Với người Nhật, cá Koi được xem là biểu tượng của may mắn, tình yêu, sự thành công, thịnh vượng, với cả trăm loài khác nhau.

Phân loại

Hiện nay có 24 loại giống cá Koi được ghi nhận, mỗi loại đều có màu sắc, đặc điểm nhận dạng khác nhau.

Nếu được chăm sóc kĩ lưỡng, cá Koi có tuổi thọ trung bình từ 25 đến 35 năm. Tuy nhiên có vài trường hợp cá Koi có tuổi thọ hơn 200 năm. Theo ghi nhận con cá Koi già nhất có tên là Hanako sinh năm 1791 và qua đời năm 1977, thọ 226 tuổi.

Hình thái bên ngoài

Phần lớn cá Koi hiện nay có thể dài tới 1m . Nếu cá Koi được nuôi ở ao thì đến năm thứ 8 có thể chiều dài tối đa đến 1 mét. Nếu được sống trong môi trường thuận lợi, cá koi có thể tăng trưởng từ 50 – 150mm mỗi năm

Người ta dựa vào hình dáng để phân biệt cá trồng và cá mái. Cá trống thường có thân mình thon dài, hai vây ngực và nắp mang có nhiều nốt sẩn màu trắng. Trong khi cá mái có thân hình to trò và phần bụng nở nang hơn.

Thức ăn của cá Koi

Lúc mới nở, vì cơ thể còn yếu nên chúng tự nuôi dưỡng cơ thể bằng cách ăn noãn hoàng. Những ngày sau đó cá koi nhỏ bắt đầu có thể ăn các thức ăn bổ sung như bobo, các sinh vật phù du, lòng đỏ trứng chín hay có thể ăn bột đậu nành pha loãng trong nước.

Sau khi cá cứng cáp, Koi chuyển sang ăn các loại động vật tầng đáy như giun, loăng quăng,…Khi 1 tháng tuổi, lúc này cá bắt đầu lớn hơn chút và chúng có thể ăn các loại động vật nhỏ như: giun, ốc hoặc ấu trùng sinh sống ở hồ.

Khi cá trưởng thành, chúng còn có thể ăn thực phẩm như cám, bã đậu, phân xanh, thóc lép, thức ăn dạng viên đã chế biến sẵn.

Cá koi là loài ăn tạp, ai cho gì thì chúng ăn nhưng không nên cho cá ăn quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến hình dáng và màu sắc của cá sau này.

Bạn có thể tập cho cá ăn trên tay mình. Bạn giữ thức ăn trên tay rồi thả tay xuống bề mặt nước, cá sẽ ăn ngay trên tay bạn. Nhưng bạn phải tập vài ngày hoặc vài tuần thì lũ cá mới quen.

Tập tính sinh sản của cá Koi

Cá Koi thường đẻ vào ban đêm và buổi sáng sớm, cá từ 2-3 năm tuổi có thể đẻ được từ 150- 200 nghìn trứng tùy vào môi trường và điều kiện sống như độ rộng và sạch của bể mà số lượng cũng như chất lượng trứng đẻ ra cũng tăng lên hoặc giảm đi.

Trứng cá Koi là trứng dính nên khi đẻ trứng thường dính lên các gia thể. Trong điều kiện nhân tạo người ta thường sử dụng lục bình hoặc vải lưới để tạo giá thể cho trứng bám. Cá là động vật thụ tinh ngoài nên sau khi cá cái đẻ xong cá đực sẽ bơi theo sau để thụ tinh lên trứng.

Sau khoảng 40-50 giờ thì trứng nở thành cá bột. Do thời gian nở của trứng khá lâu nên cũng cần đảm bảo giá thể và nước trong bể sạch và nhiệt độ được giữ ở mức ổn định.

Các loại cá Koi được nhiều người ưa chuộng

Cá Koi Kohaku

Kohaku hiện nay là một trong những giống cá Koi phổ biến, được nhiều người ưa chuộng. Loại cá này có màu trắng và những khoang màu đỏ. Trên hầu hết những con Kohaku đều xuất hiện vùng hoa văn ở phần đầu, có thể là kiểu hoa văn truyền thống với những khoang lớn hình chữ U. Theo đánh giá chung của người chơi cá, những con cá có khoang đỏ càng lớn trên thân thì càng được yêu thích.

Cá Koi Kohaku thân đỏ trắng là dòng cá tiêu biểu, khả năng sinh sôi nảy nở cực tốt và cũng là 1 trong những dòng cá có tuổi thọ cao. Vì thế còn được gọi là “Cá Trường Thọ”. Thời xa xưa ở các nước Á Đông người ta thường quan niệm nhà nào đông con nhiều cháu là nhà đó có nhiều phúc đức, bởi thế có 1 số gia đình đến thời nay vẫn giữ 1 thói quen là đêm động phòng ngoài dán chữ Hỷ trong phòng họ còn bày biện thêm 1 món quà làm vật trang trí là 1 đôi cá chép thân đỏ trắng tượng trưng cho sự sinh sản nhằm cầu chúc cho cặp đôi luôn được sống hạnh phúc, con đàn cháu đống, nhân đinh hưng vượng.

Cá Koi Taisho Sanke

Taisho Sanke còn được gọi với cái tên là Sanke, đã được lai tạo phát triển từ giống cá Kohaku. Chính vì vậy, trên cơ thể của chúng vẫn còn giữ được màu đỏ, trắng như Kohaku và pha trộn thêm màu đen,  Người ta thường đánh giá vẻ đẹp của cá koi Taisho Sanke qua Shiroji (màu trắng): khi màu trắng trên thân cá càng sạch và rực rỡ thì cá càng có giá trị.

Cá koi Taisho Sanke thân nền trắng điểm xuyết khoang đỏ rộng và vằn đen sumi như những đám mây nhỏ, thanh thoát, ngắm nhìn chúng khi tung tăng bơi lội vô cùng thích mắt. Tự thời cổ chí kim, người ta quan niệm màu đỏ là màu diễm lệ nhất, là màu nổi bật và may mắn nhất. Nghe đâu nếu nhà gái nuôi cá Koi Taisho Sanke trước khi cho con gái về nhà chồng, màu đỏ chính trên thân cá Koi càng đậm đẹp thì sau khi cô gái đó xuất giá sẽ có cuộc sống càng sung túc, hạnh phúc lứa đôi luôn muôn màu muôn vẻ, cá Koi càng to đẹp thì gia đạo càng mỹ mãn.

Cá Koi Showa Sanshoku (Showa)

Lại là một giống cá nữa được phát triển từ nền tảng của Kohaku. Tuy nhiên, trên cơ thể của loài cá này, màu đen (phần sumi) chiếm đa số và sẽ được lan rộng trên phần đầu của cá. Đây chính là một trong những đặc điểm giúp bạn có thể phân biệt được dễ dàng loài cá koi Showa và Sanke: Show có phần sumi ở đầu và Snake thì không.

Cá Koi Showa còn được gọi là “Cá chép tài lộc”. Ở phần đầu cá sẽ có chỏm đen lớn, sau đó 3 màu cơ bản đen, trắng, đỏ sẽ được phân bố đều, màu đen sẽ nhiều hơn Koi Sanke. Người ta quan niệm màu đen có thể sát hung thần, tránh xa vận rủi và mang tài lộc tới. Vì thế, rất nhiều thương gia và các chủ tiệm đã chọn loại cá này để nuôi dưỡng. Cũng vì thế mà từ đó cá Koi Showa đều được mọi người đặc biệt ưa thích.

Cá Koi Shiro Utsuri

Koi Shiro Utsuri là 1 trong những chủng loại cá chép truyền thống và lâu đời vì có đặc trưng thân mình màu trắng đen như những bức tranh thủy mặc nguyên sơ sơn vẽ bằng mực đen. Phong thái và bố cục trong tranh thủy mặc thì thường như có như không, tưởng như đứt đoạn nhưng rồi lại tiếp tục, là khoảng giao thoa giữa sinh ra và hủy diệt, 1 phong cách tiêu biểu cho trường phái vui thiền.

Loài cá này cũng được những ẩn sĩ, tầng lớp nho sĩ, những người ngoại đạo nhưng yêu chuộng thư pháp rất ưa chuộng vì nó toát lên vẻ cốt cách tao nhã, thanh thoát và trong sạch trong con người họ; ngoài ra theo phong thủy, loài cá này còn tượng trưng cho sự may mắn.

Cá Koi Bekko

Bekko là giống cá koi Nhật Bản có hình dáng bên ngoài gần giống với loại cá Utsur. Koi Bekko có vẩy đục, không có ánh kim và là dòng cá được kết hợp từ ba màu cơ bản đó là đỏ, vàng, trắng với những vệt đen sumi. Loại cá Koi này có những đặc điểm của cá chép là mắt to, mình trong, quan sát được cả phần mũi và sợi râu dưới miệng cá.

Bekko là giống cá koi Nhật Bản có hình dáng bên ngoài gần giống với loại cá Utsur. Koi Bekko có vẩy đục, không có ánh kim và là dòng cá được kết hợp từ ba màu cơ bản đó là đỏ, vàng, trắng với những vệt đen sumi. Loại cá Koi này có những đặc điểm của cá chép là mắt to, mình trong, quan sát được cả phần mũi và sợi râu dưới miệng cá.

Cá Koi Karashi

Đây là loại cá Koi rất được ưa chuộng trong những năm gần đây, loại cá Koi này có da trơn màu sắc cá từ màu vàng nhạt đến vàng đậm toàn thân, rất đẹp và tươi tắn.

Loại cá này phát triển nhanh, có thể dễ dàng đạt được size lớn sau thời gian nuôi 2 – 3 năm đúng cách, cá có khả năng thích nghi với môi trường cao, dạn người.

Cá Koi benigoi (mud pond)

Cá Koi mud pond (koi benigoi) này toàn thân có màu đỏ đậm rực rỡ, vảy cá óng ánh màu đỏ rất đẹp, vây và ngực cũng màu đỏ, ngực không có chút màu trắng nào, hình dáng thân cá mập hoàn hảo, thuôn dài, đầu cá hơi gù, phần đầu và vai to rộng. Cần tinh ý phân biệt loài cá Koi benigoi này với loài Koi Aka Hajiro vì rất dễ nhầm lẫn (nếu có chút màu trắng sẽ là koi Aka Hajiro, màu đỏ cũng không đậm như cá benigoi).

Loại cá Koi benigoi khá dễ sống, có khả năng thích nghi cao với môi trường. Lưu ý cho cá ăn thức ăn chuyên dụng cùng thức ăn tạo màu để đảm bảo duy trì được màu sắc của cá. Cá Koi benigoi nổi bật với màu sắc đỏ rực chắc chắn sẽ là điểm nhấn cho hồ cá Koi của bạn, tạo thu hút lớn.

Cá Koi chagoi

Giống cá koi chagoi được nuôi khá phổ biến được xếp vào là loại Koi thủ lĩnh của đàn bởi cá này có sức sống rất khỏe , bơi nhanh, quẫy đuôi mạnh, cá thân thiện dạn người, koi chagoi có màu đơn sắc, không có ánh kim loại, loài cá này khá háu ăn nên nhanh lớn, dễ đạt size to sau thời gian nuôi ngắn.

Phần vây ngực vây lưng, đuôi cá Koi chagoi khá dày, cứng, cặp râu dài cứng. Dựa vào màu sắc koi chagoi được chia làm 3 loại: Chagoi màu nâu, Chagoi màu lục nhạt, Chagoi màu xanh dương xám.

Cá Koi Asagi

Cá koi Asagi là loài cá có lịch sử lâu đời nhất, là 1 trong những dòng cá xuất hiện đầu tiên ở Nhật Bản có từ hơn 160 năm trước, phần lưng cá nổi bật với những lớp vảy hình quả trám kết mạng dày và đều màu xanh bạc rất nổi bật trên nền trắng; đầu cá sẽ là màu trắng sáng thuần khiết; vây cá, bụng cá, 2 bên hông và phần 2 bên má thậm chí lan cả ra mép miệng sẽ được điểm xuyết thêm màu đỏ, màu vàng, vàng nhạt hoặc màu kem (mỗi con muôn màu muôn vẻ).

Loài cá Koi này được cho là thủy tổ của các nhóm Koi sau này, nó như 1 trưởng lão hấp thụ những tinh hoa để đem lại sự bền bỉ và thịnh vượng cho con cháu, có nó đàn cá của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ như có chỗ dựa vững chắc, vận khí luôn được điều hòa, tượng trưng cho nhà nhà bình an, yên ấm bởi thế nó còn từng được mệnh danh là “Cá chép Ngũ Phúc”.

Cá Koi Shusui

Cá Koi Shusui là loại cá thế hệ sau được lai tạo từ giống Koi Asagi nên không có gì ngạc nhiên khi nó được thừa hưởng những vẻ đẹp của giống Asagi nhưng có điều chúng là nhóm da trơn, ranh giới các vệt màu rất rõ nét, màu sắc hình dáng rất đặc trưng với mảng vằn đối xứng xếp dọc lưng đến đuôi đều, dày và bóng đẹp nổi bật, màu cam đỏ hoặc đỏ 2 bên hông bụng cũng được kéo dài đến tận đuôi.

Vẻ đẹp độc đáo của nó khiến cho đàn cá của bạn đã đẹp nay lại càng đẹp hơn, cảnh vật như điểm thêm hoa, tô thêm lá, cho bức tranh thêm phần sống động, hài hòa. Koi Shusui tượng trưng cho sự sáng tạo nhưng vẫn chuẩn mực ở 1 khía cạnh nào đó, vẫn giữ được nét truyền thống cơ bản và từ đó phát huy thêm. Con cháu của bạn cũng sẽ mở mang thêm, khai sáng thêm được những con đường mới, những lý tưởng mới từ những cái căn bản, truyền thống gia đình không mất đi mà gia đạo lại càng được thịnh hơn, càng đi vào lề lối hơn.

Cá Koi Tancho

Tancho là giống cá koi có chấm tròn màu đỏ nằm chính giữa trung tâm phần đầu của chúng. Ba loại cá cơ bản của Tancho là Tancho-kohaku, Tancho-Sanke, Tancho-Showa đều có hình dáng bên ngoài giống như cá chép koi chuẩn. Tuy nhiên loại cá này có vảy đục, vây đẹp nhìn rõ các tia vây, màu sắc rực rỡ, mắt to, râu dài và thân mình tròn trịa, đầu hơi gù.

Cá Koi Tancho Kohaku là loài cá được các bậc quan chức nhân sĩ ưa chuộng và được mệnh danh là loài cá chép có “cốt cách nhà quan”. Mình cá màu trắng tuyết rất đẹp, đầu cá có màu đỏ nổi bật, giống biểu tượng của cờ nước Nhật – tượng trưng cho đất nước mặt trời đỏ, tượng trưng cho nước nhà nên quan lại rất thích chọn lựa nuôi dưỡng. Theo phong thủy, nó có tác dụng vun đắp tạo dựng cho sự nghiệp của gia chủ thêm hưng vượng, quan vận hanh thông, thăng quan phát tài, củng cố địa vị và quyền lực.

Cá Koi Goromo

Goromo nổi bật với những đường nét hoa văn trên thân nền màu trắng tuyết hoặc trắng sữa. xen lẫn với những đốm lưới như tổ ong, và có màu đỏ, dày đậm. Những mảng màu đỏ trên thân giống cá koi này không phải sắc đỏ tươi như kohaku mà là màu đỏ bầm thẫm hơn rất nhiều, khá giống với màu máu đông đặc. Cá koi Goromo có thể dễ dàng phân biệt với Goshiki đó chính là màu đỏ sẫm ngả xanh đen.

Cá Koi Ginrin

Koi Ginrin Kohaku được nhận biết nhờ màu sắc đỏ và trắng của chúng, trên thân nó có vảy màu ánh kim loại lấp lánh. Loại cá này có thân hình tròn lẳn, thon gọn dần về phía đuôi. phần đầu hơi gù, miệng lớn, hai sợi râu của cá koi ginrin to và dài hơn so với các loại cá chép thông thường.

Cá Koi Ghosiki

Loại cá này có một nền màu trắng với mắt lưới đen và xanh, có những đốm màu đỏ như Kohaku. Nếu thả cá koi Ghosiki vào nước lạnh thì màu của nó sẽ tối hơn so với bình thường. Những chú cá koi thuộc dòng Ghosiki có đầu sạch, màu trắng và đỏ trên đầu, không có màu đen là những giống cá được ưa chuộng hiện nay.

Cá Koi Hikarimuji

Cá koi Hikarimuji hay còn được gọi với tân là Hikarimono. Loại cá này thường có vảy kim loại đơn sắc 1 màu.

Cá Koi Hikarimoyo

Loại cá này thường có vảy kim loại màu sáng bóng sang trọng.

Cá Koi Hikari Utsuri

Loại cá này được lai tạo từ cá koi Utsuri. Có thể hiểu, loại cá này là những cá thể Utsuri có lớp ánh kim, thuộc dòng koi kim loại. Chúng ta có thể phân loại cá Hikari Utsuri theo màu sắc của từng dòng Utsuri: Shiro Utsuri thường có màu trắng đen phổ biến nhất, sau đó tới Hi Utsuri có màu đỏ và cuối cùng là ki Utsuri có màu vàng hiếm nhất.

Koi Hi-Utsuri có vẻ đẹp đặc trưng là 1 màu đen tuyền kết hợp đan xen với màu đỏ đậm hoặc đỏ cam đậm. Cá Koi Hi-Utsumi tròn trịa, mập mạp di chuyển bơi lội bên dưới cho ta cảm nhận rõ trọng lượng của nó thật không dễ gì nổi lên nhưng bơi lượn vẫn rất nhẹ nhàng và thanh thoát; đồng thời màu sắc của nó lại không hề cho ta cảm giác bị đè nén do áp lực.v..v…Vẻ đẹp lạnh lùng của nó khiến nó còn được mệnh danh là “Hoàng tử bóng đêm” lạnh lùng, và quyền uy; nó bơi lượn dưới đàn cá cho ta cảm giác như đang ngạo nghễ duyệt binh.

Cá Koi Bướm

Cá koi bướm có tên khoa học là Assorted Butterfly Koi- Cyprinus carpio là loài cá Koi vip, được đánh giá cao nhất trong các loài cá Koi, tên gọi cá Koi bướm xuất phát từ đặc điểm loài cá này có vây dài của cá chép trông như cánh bướm và màu sắc rực rỡ của cá Koi.

Cá Koi bướm nổi bật với dáng hình bơi lượn uyển chuyển rất đẹp, dáng vẻ bơi như một chú bướm vẫy cánh bay lên trời, những chiếc vây của loài cá này được ví như cánh bướm, dài mượt, thướt tha khiến người xem cuốn mình theo đường cong của chúng. Cá Koi bướm không có đồng một màu mà sẽ có các màu khác nhau và được phối trộn khá hài hòa. Cá Koi bướm là sản phẩm của quá trình nhân giống và lai tạo và hiện số lượng nhân giống cá này đang ngày càng tăng, nhận được sự chú ý lớn từ người chơi. Loài cá Koi bướm khá dạn người và hiền lành nên có thể nuôi chung với các loại cá Koi khác, cá dễ chăm sóc.

Ứng dụng và ý nghĩa phong thủy của cá Koi

Cá Koi rất thích hợp dùng để trang trí tại nhiều khuôn viên và trang trí gia đình. Từ thời cổ đại thì cá Koi được cho là loài cá mang đến nhiều điều tốt lành. Trong phong thủy học khí vượng hơn thủy, có khí sẽ sinh ra thủy, có thủy khí sẽ càng vượng hơn. Nếu trong nước có vật cát tường thì càng có khả năng vận hành phong thủy, giúp vượng khí quy tụ, không tán. Chính cá Koi được cho là vật cát tường, đá quý trong nước giúp hội tụ khí vượng, bởi vậy mà được coi là loài cá may mắn, có ý nghĩa lớn về mặt phong thủy.

Nếu nuôi 6 con cá Koi màu đen được cho là sẽ giúp gia chủ sinh tài bởi vì màu đen là đại diện cho hành thủy, số 6 trong phong thủy là đại diện cho hành kim mà kim sinh thủy, trong nước có vàng thì nguồn nước sẽ trở nên vô tận. Vì vậy khi nuôi 6 con cá Koi màu đen trong bể nước sẽ tương ứng với kim sinh thủy, với ý nghĩa có vàng trong nước, sản sinh nhiều tài lộc.

Nuôi cá Koi có thể thúc đẩy tài chính, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Cá Koi trong phong thủy được cho là loài cá sinh tài, nuôi cá Koi trong nhà có thể giúp bạn tăng vận may về tài chính, tốt cho sự nghiệp của bạn.

Ở Nhật Bản cá Koi được gọi là cá thần, tượng trưng cho sự may mắn và hạnh phúc. Cá Koi nhật bản rất đẹp, rực rỡ, cuốn hút bởi vậy mà người Nhật Bản coi cá Koi là loài cá quốc gia của Nhật Bản. Từ năm 1960 tại Nhật Bản, nhiều người có sở thích nuôi cá Koi và lập thành trang trại chuyên nuôi cá Koi. Một số loài cá Koi nổi tiếng của Nhật được xếp vào loại xuất sắc có giá rất đắt.

Ở Trung Quốc, cá Koi ngày càng được yêu thích, được biết đến như loài cá may mắn, cá phong thủy, vua của cá cảnh. Cá Koi được người Trung Quốc coi là tốt lành từ thời cổ đại. Ngày xưa loại cá này thường được nuôi trong ao của các đền chùa với ý nghĩa tốt lành. Hiện nay những nhà có điều kiện hoặc các doanh nghiệp vẫn giữ phong tục mua cá Koi trong lễ hội mùa xuân với mong muốn khởi đầu năm mới với nhiều thuận lợi.

Các chỉ tiêu lựa chọn cá Koi

Chọn cá có màu sắc sáng: đỏ thì đỏ tươi, đen thì đen như mực, màu sắc phải rõ ràng, cạnh gọn gàng, cá Koi có các nét bị mờ, xỉn màu thì không nên chọn. Mỗi loài cá có hoa văn khác nhau nhưng cần lựa chọn cá có hoa văn rõ ràng.

Không nên chọn cá có kích thước quá lớn: Cá nuôi chơi gia đình thông thường nên chọn cá Koi có kích thước chiều dài từ 10 – 20cm điều này là bởi bể cá gia đình thường có kích thước vừa phải.

Cơ thể cá phải thẳng, đối xứng, vây lưng, vây ngực, vây đuôi cần hài hòa, bề mặt cơ thể cá không xây xước.

Cá phải khỏe mạnh, mịn màng, nhìn tự nhiên, cá bơi nhanh nhẹn, ăn uống tích cực, hình dáng cân đối, có miệng dày và có đuôi khỏe. Các bộ phận thanh thoát, kéo dài, thẳng và uyển chuyển. Nếu cá khỏe mạnh chắc chắn sẽ giảm tình trạng mắc bệnh. Có thể thử bằng cách cho cá ăn ít mồi, nếu cá ăn nhanh chứng tỏ cá rất khỏe mạnh.

Kỹ thuật nuôi cá Koi

Trong những năm trở lại đây, người ta bắt đầu lai tạo ra nhiều loài cá chép tuyệt đẹp, có thể nói là mang tính chất đột phá. Tiêu biểu cho giống cá chép mới là Koi. Koi cũng trở thành một đặc trưng của đất nước mặt trời mọc. Koi cũng giống như những người loài cá chép khác, rất dễ nuôi và mau lớn. Nhưng chúng ta cũng nên chú ý đến một số kỹ thuật chăm sóc chúng cho thật tốt.

Nước nuôi cá Koi

Chúng là loài cá to nên cần môi trường nước khá rộng. Ðể cá có sức khoẻ vững bền, nước nuôi cá phải luôn được giữ trong sạch. Thường xuyên kiểm tra chất lượng nước, nhiệt độ, pH, NH3…Nồng độ pH luôn phải từ 7 – 7.5 được coi là lý tưởng. Nên tránh sự thay đổi độ pH quá bất ngờ đột ngột vì như thế sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ của cá.

Nếu nồng độ Nitrite trong nước quá cao hoặc bạn có nhu cầu để thay nước hồ thì cũng không nên thay một lần mà nên thay từ từ, cứ 2 ngày rút đi khoảng một phần ba thể tích của hồ cho đến khi nước hồ trong lại.

Bạn cũng nên chú ý đến các loại rong tảo phát triển trong nước, nếu rong tảo phát triển quá nhiều sẽ hút hết nồng độ oxygen trong nước và làm cá nghẹt thở.

Ðể làm giảm sự phát triển của rong tảo bạn có thể trồng thêm những loại cây trong nước như sen, cỏ sậy quanh hồ, một thác nước nhỏ hoặc một vòi phun nước (dạng giếng phun) cũng có tác dụng đáng kể.

Thức ăn cho cá Koi

Cá Koi là loài cá ăn tạp, cá ba ngày tuổi tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài như: Bo bo và các loài động phiêu sinh khác, cũng có thể ăn lòng đỏ trứng chín.

Cá được 15 ngày tuổi bắt đầu chuyển tính ăn, ăn động vật đáy, do đó giai đoạn này, tỉ lệ sống bị ảnh hưởng lớn. Trong điều kiện nuôi, chúng ta phải cung cấp thức ăn bên ngoài như trùn chỉ, loăng quăng, hoặc gây nuôi tốt các động vật phiêu sinh và động vật đáy để có thể cung cấp tốt nguồn thức ăn tự nhiên cho cá … Vai trò của nguồn thức ăn tự nhiên trong giai đoạn này quyết định tỉ lệ sống của cá.

Các bệnh thường gặp ở cá Koi

Phương pháp nhân giống cho cá Koi

Cá Koi có thể đẻ dể dàng trong môi trường nhân tạo khi thuần thục ở 1 năm tuổi . Thường thì được cho đẻ theo từng nhóm nhỏ cân đối trống mái hoặc cá trống nhiều hơn cá mái. Bể đẻ thường không sâu và khá trống trải để sau khi cá đẻ có thể bắt cá bố mẹ ra ngoài. Cá đẻ thường vào sáng sớm, cá trống luôn bám đuổi và thúc vào hông cũng như vùng bụng của cá mái. Cá mái 2- 3 năm tuổi có thể cho 150 đến 200 ngàn trứng/mỗi lần đẻ. Trứng rơi rãi bám lên khắp nơi trong bể: nền, cây thủy sinh, rễ bèo hay lục bình.

Chọn cá bố mẹ

Chọn cá thuần chủng, không lấy cá đực và cái trong cùng một lứa, chỉ chọn hoặc đực hoặc cái. Cá đực có gờ nhám ở vây ngực, lỗ sinh dục lõm khi, vuốt nhẹ bụng phía gần lỗ sinh dục thấy có chất dịch màu trắng chảy ra. Cá cái: sờ vây ngực nhẵn, lỗ sinh dục lồi. Cá đực có nhiều núm tròn trên vây ngực, cá cái thì có thân hình tròn hơn.

Cần nuôi vỗ cá bố mẹ: diện tích ao 500 – 1.000 m2 hoặc lớn hơn, độ sâu 1,2 – 1,5 mét. Ao gần nguồn nước để có thể chủ động thay nước, mặt ao thoáng, không bóng cây che, trên bờ không có bụi rậm. Bờ ao cao hơn mực nước thủy triều cao nhất 0,5 m. Nuôi chung cá bố mẹ, mật độ 20 – 25 con/100 m2. Tỉ lệ đực: cái khi nuôi vỗ: 1: 2 hay 1: 3.

Thức ăn và chế độ ăn

Thức ăn: cám có 35 – 40% đạm, bón phân gây màu định kỳ tạo nguồn thức ăn tự nhiên, lượng phân bón tùy vào màu nước, phải dùng phân chuồng đã ủ hoai.

Lượng thức ăn: 5 – 7% tổng trọng lượng đàn, có thể thay đổi tùy vào điều kiện khí hậu môi trường có thuận lợi hay không hoặc tùy vào sức khỏe đàn cá.

Cá Koi tương đối dễ nuôi, việc chăm sóc cũng như ao nuôi các loài cá nước ngọt khác.

Cải tạo ao trước khi thả giống: quy trình cải tạo ao trước khi thả giống cũng giống như ao nuôi các loài cá nước ngọt khác. Tuy nhiên cần lưu ý: cá chép nói chung thích ăn mồi ở tầng đáy, chủ yếu là động vật đáy, do đó để nâng cao năng suất nuôi và hiệu quả sử dụng ao hồ cần quan tâm đến việc gây nuôi động vật đáy để làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Bón phân gây màu: phân chuồng đã ủ hoai 25 – 50kg/100 m2 và phải bón định kỳ (tùy vào màu nước trong ao có thể bón 1 – 2 lần/tháng).

Chuẩn bị cho cá đẻ

Khi cá được 7 – 8 tháng tuổi là đến giai đoạn thành thục. Kiểm tra độ thành thục của cá bố mẹ để chọn cá cho sinh sản. Chọn cá có màu sắc và hình dạng như mong muốn và có độ thành thục tốt như sau:

Đối với cá cái: lật ngửa bụng cá, chọn những con bụng to, da bụng mềm đều, lỗ sinh dục sưng và có màu ửng hồng, trứng có độ rời cao, nếu vuốt nhẹ bụng cá từ ngực trở xuống cá tiết ra vài trứng.

Cá đực: chọn những con có tinh dịch màu trắng sữa, kiểm tra bằng cách vuốt nhẹ phần bụng gần lộ sinh dục. Tuy nhiên, không nên vuốt nhiều lần vì cá sẽ mất nhiều tinh dịch ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ tinh.

Chuẩn bị bể đẻ và giá thể

Bể đẻ là hồ xi măng, đáy bằng phẳng và không có vật nhọn. Diện tích 2,5 x 5 x 1,2m, giăng lưới xung quanh bên trong với mục đích dễ thu gom cá bố mẹ sau khi sinh sản và tiện cho việc theo dõi cá sinh sản. Mực nước cấp vào bể đẻ ban đầu khoảng 0,5m và phải lấy trước 2 ngày.

Cá chép Nhật là loài cá đẻ trứng dính trên cây cỏ thủy sinh nên giá thể là rất cần thiết. Có thể chọn bèo lục bình: vệ sinh sạch sẽ, ngắt bớt phần lá và rễ già để tạo chùm rễ thông thoáng, nên chọn phần rễ 30cm, phần thân 20cm là tốt nhất, ngâm vào nước muối 5% để sát trùng, loại bỏ ký sinh trùng khác.

Bố trí cho cá sinh sản

Phối màu: màu sắc không nên phối hợp một cách tùy tiện và theo các hướng tương đối sau:

Cá bố mẹ đều có màu gấm vàng hay màu gấm bạc cho sinh sản riêng và không phối sinh sản với các màu sắc khác, để có được thế hệ cá con có màu sắc chủ yếu như cá bố mẹ.

Cá bố mẹ tương đối có hai màu trên thân là đỏ, đen hay trắng, đen hay đỏ, trắng được cho sinh sản chung với cá có ba màu đỏ, đen, trắng.

Mật độ tỉ lệ đực cái tham gia sinh sản

Trung bình 0,5 – 1 kg cá cái/m2 bể đẻ (khoảng 2 cá cái/m2 bể đẻ). Tỉ lệ đực: cái tham gia sinh sản = 1,5/1 đến 2/1 để đảm bảo chất lượng trứng thụ tinh.

Việc lựa chọn cá bố mẹ thường được tiến hành vào buổi sáng: 8 – 9 giờ, khi cá bố mẹ được lựa chọn phù hợp thì cá được đem lên bể đẻ, kích thích dưới ánh sáng mặt trời. Độ chiếu sáng trung bình trên hồ là 8/24 giờ. Đến xế chiều, 16 – 17 giờ cho giá thể vào và tạo dòng nước chảy nhẹ vào hồ. Bố trí hệ thống sục khí để tăng cường oxy. Việc phơi nắng và tạo dòng chảy hay tăng cường oxy là các yếu tố kích thích sự sinh sản của cá.

Hoạt động sinh sản của cá

Cá được đưa lên bể như trên sẽ đẻ trứng ngay vào hôm sau, khoảng 4 – 5 giờ sáng. Nếu cá chưa sinh sản thì phải bố trí lại từ đầu và tiếp tục sử dụng các yếu tố kích thích như ban đầu.

Tương tự như cá vàng hay cá chép thường, trước khi sinh sản, có hiện tượng cá đực rượt đuổi cá cái. Dưới sự kích thích của nước mới, cá vờn đuổi nhau từ bên ngoài và chui rúc vào ổ đẻ, tốc độ vờn đuổi càng lúc càng tăng thì cá sẽ đẻ dễ dàng. Cá cái quẫy mạnh phun trứng, cá đực sẽ tiến hành thụ tinh nơi trứng vừa được tiết ra. Trong suốt quá trình sinh sản, cá đực luôn bám sát cá cái để hoàn tất quá trình sinh sản.

Đối với trường hợp cá không sinh sản, cần vớt giá thể ra vào khoảng 9 – 10 giờ sáng hôm sau, hạ bớt một phần nước trong hồ, tiếp tục để cho cá được phơi nắng trong hồ đến xế chiều cho thêm nước mới vào để kích thích cá đẻ tiếp tục và cho giá thể vào. Tạo điều kiện môi trường như lần đầu, hôm sau cá sẽ đẻ lại.

Ấm trứng

Thường xuyên cho nước chảy nhẹ nhàng hoặc thay một phần lượng nước trong thau ấp bằng lượng nước đã dự trữ sẵn. Thau trứng luôn được sục khí liên tục, nhất là trứng sắp nở. Tránh sự chiếu sáng trực tiếp của ánh sáng mặt trời.

Trứng thụ tinh sau khoảng 24 giờ sẽ thấy hai mắt đen li ti. Quá trình phát triển phôi cần lượng oxy rất cao, nhất là thời điểm trước và sau khi trứng nở, vì cơ thể cá chuyển từ trạng thái phôi bất động sang trạng thái vận động, quá trình trao đổi chất tăng. Mặt khác, các enzym được tiết để phá vỡ mối liên kết màng trứng chỉ hoạt động trong điều kiện giàu oxy, nếu thiếu oxy thì enzym bị ức chế dẫn đến tỉ lệ nở thấp.

Trong giai đoạn cá mới nở, cá dễ chết hàng loạt nếu trên bề mặt có lớp váng. Do thiếu oxy, vì vậy phải tăng cường sục khí sau khi trứng nở.

Ương cá bột

Thường xuyên cho nước chảy nhẹ nhàng hoặc thay một phần lượng nước trong thau ấp bằng lượng nước đã dự trữ sẵn. Thau trứng luôn được sục khí liên tục, nhất là trứng sắp nở. Tránh sự chiếu sáng trực tiếp của ánh sáng mặt trời.

Trứng thụ tinh sau khoảng 24 giờ sẽ thấy hai mắt đen li ti. Quá trình phát triển phôi cần lượng oxy rất cao, nhất là thời điểm trước và sau khi trứng nở, vì cơ thể cá chuyển từ trạng thái phôi bất động sang trạng thái vận động, quá trình trao đổi chất tăng. Mặt khác, các enzym được tiết để phá vỡ mối liên kết màng trứng chỉ hoạt động trong điều kiện giàu oxy, nếu thiếu oxy thì enzym bị ức chế dẫn đến tỉ lệ nở thấp.

Trong giai đoạn cá mới nở, cá dễ chết hàng loạt nếu trên bề mặt có lớp váng. Do thiếu oxy, vì vậy phải tăng cường sục khí sau khi trứng nở.

Tuổi thành thục của cá chép từ tám tháng đến một năm tuổi. Mùa vụ sinh sản chính là mùa mưa, nhưng hiện nay do cá chép đã được thuần hóa nên có thể sinh sản tốt quanh năm. Cá không chăm sóc trứng và có tập tính ăn trứng sau khi sinh sản. Sức sinh sản tương đối thực tế của cá: 97.000 trứng/ kg trọng lượng cá.

Tuy nhiên, sức sinh sản này còn tùy thuộc vào điều kiện nuôi, chế độ dinh dưỡng và các yếu tố môi trường khác như: thời gian phát triển phôi khoảng 8 – 42 giờ ở nhiệt độ nước 26 – 310C. Ngoài tự nhiên: cá đẻ ở vùng nước tù có rễ, cây cỏ thủy sinh, độ sâu khoảng 1 mét. Trong điều kiện nhân tạo: nếu có điều kiện tạo mưa nhân tạo, có giá thể là rễ cây lục bình hoặc xơ nilông, nước trong sạch, mát.

Đặc điểm của trứng: trứng dính, hình tròn, đường kính 1,2 – 1,3mm, màu vàng trong, thời gian phát triển phôi: từ 36 – 40 giờ ở nhiệt độ 28 – 300C. Trong điều kiện nuôi ở nước ta, thời gian tái phát dục của cá đực khoảng 15 ngày, của cá cái khoảng 20 – 30 ngày. Thời gian tái phát dục của cá còn tùy thuộc vào bản thân loài và điều kiện sống, mùa vụ …

Giá bán cá Koi trên thị trường

Cá Koi được phân nhiều mức giá, theo loại cá koi, giống cá và chiều dài thân cá, mầu sắc và vẻ đẹp của cá. Cá Koi có nhiều mức giá khác nhau:

Một số lưu ý khi mua cá Koi để tránh giá cao

Cá koi bướm giá bao nhiêu? Trước tiên, để mua được những dòng cá Koi tránh giá cao, bạn nên lựa chọn những địa chỉ mua cá uy tín để tránh bị chèn ép giá.

Nên lựa chọn những giống cá phải được nhân bản, cấy giống trực tiếp từ giống cá Koi Nhật Bản như vậy thì màu sắc và ý nghĩa của chúng mới được như ý.

Nên tham khảo giá cá Koi qua bạn bè, người thân hoặc những công cụ tìm kiếm để tìm ra địa chỉ mua cá có mức giá phù hợp nhất.

Đặc biệt, không nên lựa chọn những loại cá Koi quá rẻ bởi chúng sẽ bị lai tạp, có màu sắc không đẹp và sức khỏe của chúng cũng không được tốt.

Những Điều Cần Biết Về Cá Ping Pong

Nhắc tới giống cá ping pong chắc hẳn bất cứ ai có thú chơi cá cảnh cũng biết. Bởi giống cá này được rất nhiều dân chơi cá cảnh yêu thích. Tuy nhiên, kinh nghiệm nuôi cá ping pong thì không phải ai cũng hiểu và nắm rõ.

1. Giới thiệu về cá ping pong

Loài cá này còn có một tên gọi khác là cá ngọc trai. Với đặc điểm nhận dạng phổ biến nhất đó chính là giống cá này có cái bụng phình cực to. Chính đặc điểm này đã giúp cho người nuôi dễ nhận biết được giống cá cảnh này.

So với các loài cá cảnh khác thì cá ping pong có sự đột biến về phần bụng cá. Rất nhiều người muốn nuôi giống cá này. Bởi với ngoại hình mũm mĩm, đáng yêu của mình, cá ping pong sẽ giúp cho bể cá cảnh của bạn trở nên đẹp và cuốn hút hơn.

Đặc điểm của cá ngọc trai ping pong:

Giống cá này có 2 đuôi và kích thước đuôi thường ngắn. Phần đầu nhỏ nhỏ xinh xinh và phần bụng thì to phình dạng hình tròn. Trên thân phần vảy cá màu trắng sáng lấp lánh. Chính vì đặc điểm này mà giống cá dễ thương này còn có tên gọi khác là cá ngọc trai. Sở dĩ như vậy bởi sự đột biến gen do cá ping pong có nhiều lượng canxi trong cơ thể, nó đã tạo nên sự biến đổi gen và tạo nên điểm khác biệt so với các giống cá khác.

2. Kinh nghiệm nuôi cá ping pong

Cá ping pong ăn gì?

Giống cá này là một trong những giống cá cảnh rất ham ăn. Do đó, cá ping pong ăn gì sẽ không quá khó đối với người mới nuôi nó lần đầu? Bạn có thể dùng các loại thức ăn đóng hộp được bán sẵn tại các cửa hàng để cá ăn.

Thời gian cho ăn sẽ từ 1-2 lần/ngày. Tuyệt đối không cho cá ăn quá nhiều sẽ vừa ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của cá vừa khiến cho nguồn nước trong bể cá bị ô nhiễm do thức ăn ứ đọng xảy ra.

Ngoài ra, dùng các loại thức ăn khác như giun chỉ sợi đỏ. Đây cũng là loại thức ăn mà cá ngọc trai rất thích.

Cá ping pong giá bao nhiêu?

Về cơ bản, giống cá này không quá đắt. Tùy thuộc vào kích cỡ cũng như màu sắc của cá sẽ có mức giá bán cá khác nhau. Vậy giá cá vàng ping pong giá bao nhiêu? Về vấn đề này, bạn nên có sự tham khảo các trại cá bán cá cảnh. Bởi tùy từng nơi bán mà giá cá ping pong sẽ khác nhau.

Thường những con cá bing bong có kích thước to, màu sắc đẹp và nổi bật sẽ có mức giá đắt hơn.

Cá ping pong đẻ trứng hay con

Đây cũng là vấn đề nhiều người chơi cá cảnh quan tâm. Đối với giống cá pingpong, loài cá này đẻ trứng với tốc độ được đánh giá là rất nhanh. Do đó, chỉ cần cung cấp môi trường sống tốt và chăm sóc cá đúng cách, người nuôi sẽ thu hoạch được cả một đàn cá ping pong đẹp màu chuẩn.

Cá ping pong có cần oxy không?

Có bởi vậy khi chọn bể nuôi cá ping pong người nuôi cần đảm bảo kích thước bể cá rộng. Không nên chọn bể quá nhỏ bởi giống cá này tăng trưởng rất nhanh và nếu bể quá nhỏ sẽ dẫn tới hiện tượng cá bị thiếu oxy.

Tuổi thọ cá ping pong

Đây là giống cá có tuổi thọ tốt. Trung bình nếu được chăm sóc tốt thì giống cá ngọc trai này có thể sống được trên 15 năm. Với từng đó năm sinh sống cho thấy đây là giống cá có tuổi thọ cao.

Cá ping pong nuôi chung với cá gì?

Vì là giống cá khỏe nên việc nuôi chung cá ping pong với các giống cá vàng khác cũng không có quá nhiều vấn đề. Do đó, người nuôi có thể kết hợp nuôi cùng các giống cá cảnh khác. Tuy nhiên, cần phải chú ý bởi khả năng tranh đồ ăn của giống cá này rất thấp. Bởi khả năng bơi lội của nó không cố định nên khi nuôi chung cần chú ý một chút.

Cá ping pong mua ở đâu tốt và đảm bảo chất lượng?

Hiện nay, giống cá cảnh này có rất nhiều trại cá bán. Nếu bạn đang băn khoăn không biết cá ping pong mua ở đâu tphcm đẹp và giống cá tốt? Hãy liên hệ với chợ cá Mekong. Đây là đơn vị chuyên cung cấp các giống cá cảnh khỏe và màu sắc đạt chuẩn để phục vụ nhu cầu của người chơi cá cảnh.

Những Thông Tin Cần Biết Và Cách Chăm Sóc Cá Tai Tượng

Nguồn gốc

Cá Tai Tượng (danh pháp hai phần: Osphronemus goramy) là một loài cá xương nước ngọt thuộc họ cá Tai Tượng (Osphronemidae), sống ở vùng nước lặng, nhiều cây thuỷ sinh, phân bố ở vùng đồng bằng Nam Bộ Việt Nam. Đây là loài cá đặc trưng cho vùng nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở Borneo, đảo Sumatra (Indonesia), Thái Lan, Campuchia, Lào. Tại Việt Nam cá tai tượng phân bố tự nhiên ở sông Đồng Nai, khu vực La Ngà. Đây là loài cá có khả năng thích nghi đặc biệt với điều kiện khắc nghiệt của môi trường.

Đặc điểm sinh học

Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Tai Tượng thuộc nhóm cá ăn tạp thiên về thực vật. Cá bột dinh dưỡng bằng noãn hoàng với thời gian khá dài từ 7 – 10 ngày. Thức ăn đầu tiên của cá bột là động vật phù du cỡ nhỏ và vừa như: Moina, Daphnia, Cyslops do kích thước cá bột tương đối lớn. Sau hai tuần tuổi, cá đã ăn được trùn chỉ, lăn quăng, sâu bọ, bèo cám… Đến một tháng tuổi cá tai tượng bắt đầu chuyển sang ăn tạp nhưng thiên về động vật 84,7% và càng về sau chúng chuyển sang ăn thực vật là chính chiếm 87,5%. Khi trưởng thành cá tai tượng ăn được hầu hết các loại rau, thực vật thủy sinh và cả những phụ phẩm khác.

Đặc điểm sinh trưởng

Cá Tai Tượng là loài có kích thước lớn, cỡ lớn nhất được biết là 50 kg, dài 1,8m. Tuy vậy, chúng là loài sinh trưởng chậm. Trong ao nuôi được cung cấp thức ăn đầy đủ với mật độ nuôi thưa cá có thể tăng trọng 800 – 1.200 gram/năm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cá thường có tốc độ lớn nhanh ở năm thứ 2, cá 2 năm tuổi đạt 2,5 kg/con.

Đặc điểm sinh sản

Trong điều kiện nuôi vỗ tốt, cá tai tượng phát dục sau 1,5 – 2 năm tuổi, khối lượng cá nhỏ có thể tham gia sinh sản là 500 gam. Cá sinh sản tốt khi đạt trọng lượng từ 1 – 1,5 kg, cá được 3 – 5 năm tuổi. Cá cái cỡ 1,5 – 2 kg/con mỗi lần sinh sản dao động từ 3.000 – 5.000 trứng.

Mùa vụ sinh sản của cá tập trung từ tháng 2 – 5, cá giảm đẻ từ tháng 6 trở đi. Tuy nhiên, nếu chăm sóc tốt, môi trường nước sạch, mật độ nuôi vừa phải, mùa sinh sản sẽ sớm hơn và kéo dài hơn. Mùa vụ sinh sản cá phụ thuộc vào thời gian tiến hành nuôi vỗ và chế độ nuôi vỗ.

Kỹ thuật sinh sản cá Tai Tượng

Nuôi vỗ cá bố mẹ

Thời gian nuôi vỗ: Từ tháng 10 – 11 âm lịch năm trước.

Ao sử dụng nuôi vỗ và cho sinh sản có diện tích lớn từ 200 – 500 m2 tùy điều kiện từng hộ, độ sâu từ 1 – 1,5 m, độ trong từ 15 – 20 cm, pH dao động trong khoảng từ 6 – 8.

Ao được thay nước thường xuyên tạo điều kiện sinh thái thích hợp, kích thích quá trình sinh sản của cá.

Mật độ nuôi vỗ từ 0,5 – 0,7 kg/m2, tỷ lệ đực/cái là 1:3 hay 1/1.

Thức ăn nuôi vỗ: Cá tai tượng là loài cá ăn tạp thiên về thực vật nên thức ăn sử dụng nuôi vỗ cá thức ăn viên có hàm lượng đạm dao động từ 26 – 28%, với liều lượng 1 – 1,5% trọng lượng đàn.

Cần phải tẩy dọn ao trước khi thả cá để diệt địch hại và cá tạp.

Thức ăn nuôi vỗ

Thức ăn nuôi vỗ đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sự thành thục của cá. Do cá có tập tính ăn tạp nên có thể sử dụng được nhiều loại thức ăn để nuôi vỗ cá tai tượng: thức ăn tự chế: rau xanh, bèo (30%) kết hợp cám cùng bột cá nấu chín (70%) và thức ăn công nghiệp dạng viên nổi.

Cần làm sàn ăn để theo dõi hoạt động ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Sàn chìm (đối với thức ăn tự chế): số lượng sàng phụ thuộc vào diện tích ao nuôi, trung bình 2 sàn/100 m2, đặt sàn ở độ sâu 40 – 50 cm so với mặt nước để giữ thức ăn khi cho cá ăn nhằm kiểm soát lượng thức ăn cho tránh việc cho ăn dư thừa gây ô nhiễm nguồn nước, dơ ao.

Khung nổi (đối với thức ăn viên nổi): cần bố trí khung thức ăn nổi để kiểm soát lượng thức ăn trong quá trình nuôi vỗ, diện tích khung 2 – 3 m2/khung/100 m2.

Cá bố mẹ

Cá bố mẹ có thể nuôi chung hoặc nuôi riêng. Hình thức nuôi chung đực cái được áp dụng rộng rãi và phổ biến hơn vì nó tận dụng được diện tích mặt nước, giảm chi phí đánh bắt và chọn lựa cá. Tỷ lệ đực : cái là 1 : 1 hoặc 2 : 3.

Cá chọn nuôi phải là cá khỏe mạnh, vẩy đều, láng bóng, cá phải đồng cở về kích thước và về lứa tuổi. Cá tham gia sinh sản tốt phải đạt trên 3 năm tuổi, trọng lượng từ 1,5 – 2 kg/con. Khi cá chưa thành thục (cá còn nhỏ) rất khó phân biệt đực, cái. Khi trưởng thành có thể dựa vào một số đặc điểm như sau:

Cá bố mẹ tốt phải đạt các yêu cầu sau:

Cá đực: Môi và trán có màu hồng do nhiều mạch máu phân bố, bụng màu vàng nhạt, lổ sinh dục có màu phớt hồng (vuốt nhẹ có sẹ trắng chảy ra).

Cá cái: Bụng hơi to, lổ sinh dục lồi màu hồng, trứng tròn, đều, rời và có màu vàng cam.

Cho cá sinh sản

Vật liệu làm tổ là một yêu cầu sinh thái không thể thiếu đối với cá tai tượng khi sinh sản, các vật liệu phải đãm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật sau:

Tổ cá: được làm bằng tre, có chiều dài 70 – 90 cm, phần chính dài 40 – 50 cm, đường kính miệng tổ 25 – 30 cm. Đặt tổ chúc xuống một góc 15 – 20o và cách mặt nước 15 – 20 cm.

Xơ: được làm từ xơ dừa hay xơ mo cau, xơ bao cọng lá dừa và được xé tơi, làm sạch, cắt thành đoạn dài 20 – 30 cm để cá dễ sử dụng. Xơ được rải đều trên thanh tre hoặc dây vắt ngang mặt nước gần khung tổ để cá dể dàng kéo khi bắt cặp xây tổ. Số tổ bằng 1/2 – 2/3 số cá cái, khoảng cách giũa các tổ là 2 – 3 m.

Ngoài ra, ta có thể cho cá đẻ riêng từng cặp trong bể xi măng, đạt năng suất cao hơn nhưng chi phí đầu tư cao.

Cá thường đẻ tập trung vào buổi chiều, sau khi lót lớp xơ đầu tiên, cặp cá bố mẹ bắt đầu đẻ và phóng tinh, trứng nổi lên và mắc kẹt phía dưới lớp xơ, lớp trứng đầu tiên được đẻ xong thì cá lại kéo lớp xơ khác phủ lên lớp trứng rồi đẻ tiếp, cứ 1 lớp xơ 1 lớp trứng đến khi cá phủ lớp xơ cuối cùng là 1 – 3 giờ, mỗi tổ thường có 4 – 6 lớp trứng và xơ nhưng có khi lên đến 19 lớp. Số lớp trứng và xơ tùy vào kích cỡ cá và lượng trứng cá cái.

Cách thu trứng:

Cách nhận biết cá đã sinh sản: Khi cá sinh sản xong thì miệng tổ được lấp kín bằng xơ, trên mặt nước gần tổ có những giọt dầu hoặc những hạt trứng màu vàng cam rơi khỏi tổ nổi trên mặt nước, nếu váng dầu quá nhiều là dấu hiệu của trứng hư, cá bố mẹ canh giữ tổ và quạt nước cho trứng trong tổ.

Nên thăm tổ cá vào lúc sáng sớm hay chiều mát, tránh thăm tổ vào buổi trưa nắng sẻ ảnh hưởng đến hoạt động làm tổ và sinh sản của cá. Thường mỗi ngày thăm tổ một lần để thu trứng kịp thời khi cá đã đẻ xong.

Khi thu trứng cần thao tác nhẹ nhàng vớt tổ trứng lên đặt tổ ngập trong thau nước, lấy từng lớp xơ ra, trứng thoát khỏi tổ nổi trên mặt nước, vớt trứng chuyển sang thau nước sạch khác đưa vào dụng cụ ấp.

Ấp trứng

Dụng cụ ấp trứng cá Tai tượng có thể là thau, chậu, bể nhựa, bể xi măng có diện tích nhỏ.

Mật độ ấp 50 – 80 trứng/lít, thay nước ít nhất 1 lần/ngày, nếu có sục khí liên tục có thể ấp 25.000 – 50.000 trứng/m3.Nơi ấp phải thoáng mát, nhiệt độ nước thích hợp từ 25 – 30o C, pH dao động từ 6 – 7,5, hàm lượng oxy hòa tan từ 3,5 – 4 mg/lít.

Để các thau trứng nơi mát, tránh ánh nắng chiếu trực tiếp vào thau, trong quá trình ấp vớt bỏ những trứng hư có màu trắng đục, thay 80 – 100% nước mỗi ngày/lần, sau 36 – 48 giờ trứng nở.

Sau khi nở, cá bột dinh dưỡng bằng noãn hoàng 7 – 10 ngày. Cần thay nước mỗi ngày. Sau khi nở 7 – 10 ngày, cá bột được chuyển sang bể hoặc ao ương.

Kỹ thuật ương cá bột

Ương trong bể xi măng hoặc lót bạt

Bể ương cá bột hình chữ nhật, diện tích 4 – 10 m2, mực nước 0,5 – 0,6m, có mái che.

Mật độ ương: 1.000 – 1.500 con/m2.

Thức ăn cho cá là các loại phiêu sinh động vật như: Moina (trứng nước) 1 lon sữa bò/10.000 cá bột/ ngày, trùn chỉ.

Khi cá được 2 tuần tuổi có thể tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp. Trong giai đoạn đầu do cá chưa quen với thức ăn công nghiệp cần trộn một ít trùn chỉ cùng với thức ăn, cho cá ăn theo nhu cầu.

 Kiểm tra ao hằng ngày để có biện pháp xử lý kịp thời.

 Ương trong bể có tỷ lệ sống cao nhưng phải thay nước và xi-phông đáy, thường xuyên vớt thức ăn dư thừa và những con cá bị chết, loại bỏ cá yếu. Sau khi ương khoảng 2 tháng cần chuyển cá xuống ao để nuôi cá thịt.

 Định kỳ nên bổ sung Vitamin C vào thức ăn cho cá để tăng sức đề kháng và phòng bệnh cho cá.

Ương cá trong ao

1. Chuẩn bị ao ương

Cá tai tượng có thể được ương ở ao hoặc ruộng, diện tích từ 500 – 5.000 m2.

Mức nước: 0,4 – 1,2m.

Cá con nhỏ hoạt động chậm chạp, nên khâu cải tạo ao rất quan trọng ao phải được cải tạo kỹ trước khi tiến hành thả giống.

2. Quy trình cải tạo ao

 Diện tích ao ương tùy thuộc vào diện tích có sẵn của nông hộ, tốt nhất từ 500 – 1.000 m2. Ao có dạng hình chữ nhật có chiều dài gấp 2 – 3 lần chiều rộng, độ sâu khoảng 1,2 – 1,5m, đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống.

Dọn cỏ bờ, tát cạn nước, dùng rễ dây thuốc cá diệt cá tạp, cá dữ với liều lượng 0,2 – 0,3kg/100m2, vét bùn đáy ao, lấp kín các hang hốc, bao lưới cao 1m xung quanh bờ ao.

Dùng vôi bột bón xung quanh bờ ao và đáy ao để cải tạo phèn, liều lượng từ 7 – 10kg/100 m2.

Phơi đáy ao: nếu gặp trời nắng mà phơi được đáy ao vài ngày thì tốt nhất. Nhưng lưu ý là những vùng đất bị nhiễm phèn thì không nên phơi lâu.

Gây nuôi thức ăn tự nhiên: sử dụng bột đậu nành hay bột cá để bón với liều lượng từ 2 – 3 kg/100 m2 trước khi thả cá 2 – 3 ngày.

Lấy nước cho ao: nước cần được lọc qua lưới dày trước khi đưa vào ao để tránh tép, cá khác vào ao. Nước cấp cho ao đủ độ sâu cần thiết.

Diệt trừ địch hại trước khi thả cá, nhất là trứng ếch nhái và bọ gạo. Để diệt trứng ếch nhái cần có sự kiên trì, tỉ mỉ, vào mỗi buổi sáng đi quanh ao vớt bỏ trứng ếch nhái. Để diệt bọ gạo, sử dụng dầu lửa 1 lít/100 m2 ao, dầu lửa được rải xuống đầu ao, phía đầu gió cho lan tràn khắp ao. Sau khi thả dầu lửa xuống ao được một ngày thì có thể thả cá bột.

Mật độ, cách thả giống và chăm sóc

Ương cá với mật độ khoảng 100 – 200 cá bột/m2.

Khi cá bột hết noãn hoàng tiến hành thả cá, thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi thả, nên ngâm túi cá trong nước khoảng 10 – 15 phút để tránh cá bị sốc nhiệt, sau đó từ từ mở miệng bao, người thả cá đi lùi về phía sau cho cá ra từ từ đến khi hết cá trong bao.

Chăm sóc quản lý: từ ngày1 – 15, thức ăn chủ yếu là trứng nước (Monina), nên cho ăn bổ sung bột đậu nành và bột cá hoặc thức ăn đậm đặc + trứng, bón theo tỷ lệ 1 kg/1.000.000 cá bột, cho ăn 2 ngày/lần. Cách cho ăn: hoà thức ăn vào nước tạt đều khắp ao.

Từ ngày 15 có thể sử dụng thức ăn công nghiệp cho cá ăn theo nhu cầu.

Kiểm tra ao hằng ngày để có biện pháp xử lý kịp thời.

Định kỳ nên bổ sung Vitamin C vào thức ăn cho cá để tăng sức đề kháng và phòng bệnh cho cá.

Ưu điểm của việc ương cá trong ao: cá lớn nhanh, sau khoảng 1,5 tháng có thể chuyển cá sang ao để nuôi cá thịt. Tuy nhiên, tỷ lệ sống thấp hơn so với ương trong bể nhưng giảm được chi phí.

Kỹ thuật nuôi cá Tai Tượng thương phẩm

Chuẩn bị ao

Vị trí ao nuôi: Ao nuôi phải có nguồn nước tốt, dồi dào không bị ô nhiễm, có thể cung cấp suốt thời gian nuôi. Cải tạo ao: dọn sạch bùn, cây cỏ mục, lấp các hang cua mọi, tu sửa bờ ao có lưới chắc chắn, bờ cao hơn mực nước cao nhất 0,5m, chặt bỏ cây để không che quá 25% diện tích mặt nước.

Có thể sử dụng mương vườn, liếp rẫy có mặt nước từ 100 đến vài ngàn mét vuông để nuôi cá. Mức nước sâu từ 1 – 2m. Sau khi đă vét bùn, bón vôi bột 10 – 15kg/100 m2 ao. Nếu c̣òn cá tạp, dùng dây thuốc cá đập dập lấy nước, rải theo tỷ lệ 4kg/100 m2 mặt nước, phơi khô 5 – 7 ngày. Cho nước vào ao khoảng 40 cm, sau 1 tuần, khi nước có màu xanh đọt lá chuối non, cho thêm nước vào tới 0,8 – 1m.

Thả cá và cho ăn

Cá giống: Chọn cá đều cỡ khoẻ mạnh, không bị xây xát, bị dị tật hoặc mang bệnh. Mật độ nuôi: 3 – 10 con/m2; nếu thả ghép tai tượng với cá mè trắng, cá hường thì mật độ 1 con/m2 (để tận dụng thức ăn rơi văi và làm sạch môi trường nước).

Thức ăn cho cá: sau hơn 1 tháng ương cá tai tượng lớn thành cá giống và chuyển dần sang ăn thực vật là chính, giai đoạn đầu ta cho ăn thực vật nhỏ như: bèo cám, lá rau muống, lá mì (sắn). Cá lớn hơn ăn hầu hết các loại rau, thực vật thủy sinh, phế phẩm nhà bếp.

Tuy là loài cá ăn tạp thiên về động vật nhưng theo kinh nghiệm của người nuôi nếu nuôi cá chủ yếu bằng thức ăn xanh: rau, bèo, cải, … cá lớn chậm (2 – 3 năm đạt trên 1 kg) so với việc nuôi cá có kết hợp giữa thức ăn công nghiệp và thức ăn xanh thì cá sẽ lớn nhanh hơn (1 năm trọng lượng trung bình đạt trên 1 kg/con). Tỷ lệ cho ăn rau chiếm khoảng 2 – 5% trọng lượng cá trong ngày.

Cách cho cá ăn: Thời gian đầu cá còn nhỏ dùng sàng cho cá ăn, ngày 2 lần. Khi cá lớn dần ta phân đàn, rải đều thức ăn để cá lớn nhỏ đều ăn được.

Chăm sóc và quản lý cá nuôi

Cá tai tượng là loài cá ăn tạp thiên về thực vật. Vì vậy, cần cho ăn phù hợp nhu cầu của cá. Do vậy khi nuôi cá bằng thức ăn viên nên chọn loại thức ăn phù hợp và phải kết hợp thức ăn xanh trong suốt thời gian nuôi theo tỷ lệ cân đối nhằm cân đối dinh dưỡng cho cá nuôi, tận dụng được phụ phẩm nông nghiệp có sẵn, đồng thời rút ngắn đáng kể thời gian nuôi.

Cần xây dựng khẩu phần ổn định cho cá, tránh thay đổi thức ăn đột ngột như có lúc chỉ cho thức ăn xanh liên tục nhiều ngày, sau đó đột ngột tăng khẩu phần thức ăn viên.

Do thời gian nuôi kéo dài 2 – 3 năm liên tục sẽ làm môi trường ao xấu đi do thức ăn thừa và chất thải của cá tai tượng rất nhiều, ao dễ ô nhiễm nên cần áp dụng các biện pháp tổng hợp như: thả cá mật độ vừa phải, quản lý lượng thức ăn tránh để thức ăn thừa, tăng cường thay nước,…

Ngoài ra, có thể nuôi ghép với cá sặc rằn, cá hường với mật độ hợp lý nhằm cải thiện môi trường nuôi. Hàng ngày kiểm tra hoạt động của cá để xử lư kịp thời, kiểm tra bọng bờ, chống trộm cá.

Thu hoạch cá

Chặn từng khúc mương hoặc từng phần ao, kéo lưới nhẹ nhàng, bắt cá bằng vợt, cho cá vào thùng chứa nước hay cho vào vèo (giai) chứa. Tuyệt đối không để cá bị khô.

Phòng trừ bệnh

Nguyên nhân phát sinh bệnh

Nguồn nước chứa mâầm bệnh.

Khâu cải tạo không kỹ, không tiêu diệt hết mầm móng bệnh.

Chất lượng nước ao nuôi không đảm bảo.

Thức ăn không sạch sẽ hay bị ôi thiu, hàm lượng dinh dưỡng không đảm bảo dẫn đến gầy yếu và mất sức đề kháng.

Cá giống mang mầm bệnh, không khỏe mạnh hoặc bị trầy xước, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập gây bệnh.

Nuôi với mật độ dày.

Thời tiết thay đổi đột ngột làm cho môi trường nước thay đổi và ảnh hưởng đến sức khỏe của cá.

Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp

Cải tạo và xử lý ao kỹ trước khi thả cá.

Chọn cá khỏe mạnh, không mang mầm bệnh, không bị sây sát.

Thực hiện những quy định ngăn chặn lây lan dịch bệnh từ ao này sang ao khác, vùng này sang vùng khác.

Các loại thức ăn phải được rửa sạch, nhất là thức ăn tươi sống. Không dùng thức ăn ôi thiu, mốc meo. Thức ăn dư thừa nên bỏ, không sử dụng cho ngày hôm sau.

Định kỳ thay nước ao để giữ cho môi trường nước không bị ô nhiễm. Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường nước, khi thấy nước bị ô nhiễm thì phải tiến hành thay nước ngay. Mỗi lần thay khoản 1/5 – 1/3 lượng nước ao.

Định kỳ dùng hóa chất xử lý nước ao, đáy ao.

Phải thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, nhất là lúc cho ăn, để sớm phát hiện bệnh và có cách điều trị kịp thời.

Định kỳ trộn vitamin C và khoáng vào thức ăn để giúp cá tăng cường sức đề kháng.

Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị

1. Bệnh truyền nhiễm

Tác nhân gây bệnh: do vi khuẩn nhóm Aeromonas, Pseudomonas, Streptococcus,…

Điều kiện gây bệnh: Bệnh dễ phát sinh trong môi trường nước dễ bị nhiễm bẩn, nuôi với mật độ cao, hàm lượng oxy trong nước thấp, hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn thấp hoặc không cân đối.

Triệu chứng: Dấu hiệu đầu tiên là cá kém ăn hoặc bỏ ăn. Bụng có biểu hiện sậm màu từng vùng, đuôi và vây bị hoại tử, cơ thể xuất huyết, tiết nhiều nhớt. Mắt lồi đục, nổi nghiêng hoặc lờ đờ trên mặt nước,…

Phòng bệnh: Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

 Điều trị: Dùng thuốc tím (KMnO4) tắm cho cá, liều dùng 4g/m3 1 – 2 tuần/lần. Sử dụng kháng sinh khi có sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật.

2. Bệnh do virut

Tác nhân gây bệnh: Rhabdovirus,…

Triệu chứng: khi mới phát bệnh, cá bỏ ăn hoặc ăn ít, bơi lội lờ đờ, cơ thể xuất huyết. Sau đó, bụng chướng chứa đầy dịch, các vết lở loét ăn vào tới xương thì cá chết.

 Phòng bệnh: Giữ cho chất lượng nước luôn ổn định, kết hợp với biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

Điều trị: phòng là chính, không có khả năng điều trị.

3. Bệnh do ký sinh trùng

Tác nhân gây bệnh: do trùng quả dưa, trùng mặt trời, trùng mỏ neo, nấm thủy mi, rận cá,… các loại sán lá đơn chủ 16 móc, sán lá 18 móc.

Triệu chứng: có những đốm trắng như bông gòn, cá ngứa ngáy khó chịu, thường tập trung ở nơi có nguồn nước mới, thích cọ mình vào những cây thủy sinh ở mé ao, ban đêm thường rộ lên từng đàn.

 Phòng bệnh: vận chuyển cá giống với mật độ vừa phải, kết hợp các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

Điều trị: tắm cho cá trong nước muối 2 – 3% từ 5 – 15 phút hoặc CuSO4 nồng độ 2 – 5ppm từ 5 – 15 phút hoặc phun trực tiếp CuSO4 nồng độ 0,5 – 0,7ppm xuống ao.

Bạn đang xem bài viết Những Cần Biết Về Cá Rô Đồng trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!