Xem Nhiều 3/2023 #️ Mô Hình Nuôi Cá Lóc Bằng Thức Ăn Công Nghiệp # Top 11 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 3/2023 # Mô Hình Nuôi Cá Lóc Bằng Thức Ăn Công Nghiệp # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Mô Hình Nuôi Cá Lóc Bằng Thức Ăn Công Nghiệp mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Những năm gần đây, nông dân Bến Tre đã nuôi cá lóc nhưng còn nhỏ lẻ. Cá nuôi dễ mắc bệnh, tốn nhiều công lao động, giá thành cao, lợi nhuận thấp. Để khắc phục tình trạng trên, nông dân nên nuôi cá bằng thức ăn công nghiệp để đạt hiệu quả cao.

Môi trường nuôi ít bị ô nhiễm hơn, cá nuôi ít bệnh, công lao động giảm, mật độ nuôi dày hơn, giá thành đầu vào ổn định. Hiện nay, ở các chợ, cá lóc là nguồn thực phẩm chủ lực.

Một số giải pháp nuôi cá lóc như sau:

1/ Thiết kế ao nuôi:

Cá lóc sống và phát triển tốt ở vùng có độ mặn từ 0 đến 8%o. Ao nuôi cá lóc có diện tích đa dạng, nhưng tốt nhất từ 500 – 2.000m2, thiết kế theo hình chữ nhật để dễ thu hoạch sau này. Độ sâu chứa nước đảm bảo từ 2 – 2,5m. Đặc biệt, phải có hệ thống cống cấp và thoát nước tốt.

2/ Cải tạo ao nuôi:

Nếu là ao cũ thì vét hết bùn dơ đáy ao, bón vôi 8-15kg/100m2, nếu có điều kiện thì phơi ao từ 3-4 ngày. Sau đó, cho nước vào ao độ sâu 1m, chú ý nước lấy vào phải lọc, tránh cá lớn vào ăn cá con sau này, 3 ngày sau thì tiến hành thả cá giống. Khi thả cá xong, mỗi tuần cấp thêm nước từ 10-15cm cho đến khi đạt độ sâu qui định.

3/ Chọn giống và thả giống:

Để đảm bảo tỉ lệ sống và năng suất sau này, việc chọn mua con giống rất quan trọng, kích cỡ đạt từ 6-10cm, cá phải có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không dị tật. Trước khi thả cá, dùng muối ăn pha với nước 3% để tắm cá 3-5 phút. Nên thả cá lúc trời mát. Mật độ thả cá tùy thuộc ao nuôi, như độ sâu, vốn, theo kinh nghiệm, có thể thả từ 10-50con/100m2.

4/ Chăm sóc và quản lý:

a) Thức ăn và cách cho cá ăn:

Thức ăn cho cá lóc phổ biến là loại Cargill. UP, CP… Tùy theo kích cỡ cá mà chọn loại thức ăn có kích cỡ cho phù hợp. Tháng đầu cho cá ăn 3 lần/ngày (sáng, trưa, chiều). Từ tháng thứ hai trở đi, cho ăn 2 lần/ngày. Khi cho cá ăn, dùng cây gõ vào cầu tạo tiếng động cho cá gom lại. Nếu cá giống chưa quen thức ăn công nghiệp thì phải tập cho cá chuyển từ từ bằng thức ăn cá tạp sang thức ăn công nghiệp.

Cách làm như sau: Dùng sàng ăn bằng tre hoặc trúc, diện tích khoảng 1m2, khoảng cách nẹp tre cách nhau 1,5cm. Đặt cách bờ từ 4-5m, nổi trên mặt nước. Thức ăn là cá tạp còn tươi rửa sạch xay nhuyễn, mỗi lần cho ăn trộn vào 2-3% thức ăn công nghiệp, để nguyên cục bỏ trên sàng, cá tự động lại rỉa ăn. Cứ mỗi lần cho cá ăn thức ăn công nghiệp tăng dần lên, khoảng 10-15 ngày cá đã quen với thức ăn công nghiệp thì chuyển hẳn sang cho ăn thức ăn công nghiệp. Khi cho ăn, cần trộn thêm men tiêu hóa đường ruột và vitamin C giúp cá mau tiêu hóa và tăng sức đề kháng. Chú ý khi thả cá giống được 20 ngày mới tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp, không nên tập sớm quá làm cá dễ bị mất sức.

b) Quản lý ao nuôi:

Hàng ngày, nên theo dõi khả năng bắt mồi của cá. Nếu cá giảm ăn hoặc ăn không tăng thì có vấn đề. Một là cá có dấu hiệu bị bệnh, hai là môi trường ao bị dơ, khí độc nhiều, oxy thấp. Kiểm tra màu nước của ao nuôi để có cách thay nước hợp lý. Thông thường, cá nuôi dễ mắc bệnh ghẻ, do đó phải theo dõi thật kỹ để phát hiện kịp thời. Khi phát hiện cá bị ghẻ, dùng thuốc IODINE nồng độ 1ppm tạt xuống ao. Nếu bị ít thì dùng thuốc 1 lần, nếu cá bệnh nhiều thì xử lý 2 lần. Mỗi lần cách nhau 5 ngày. Khi nuôi cá được 2 tháng, có thể dùng vi sinh định kỳ để xử lý đáy ao giúp giải phóng khí độc (vi sinh xử lý theo nhà sản xuất). Khi còn nhỏ, cá thường vào mé bờ, dễ bị chim, cò ăn nên cần có biện pháp giúp cá ít hao hụt (dùng lưới rào xung quanh mé mương). Khi cho cá ăn, nên rải thức ăn từ từ, tránh để thức ăn dư thừa.Theo dõi sự tăng trưởng của cá để có cách xử lý thích hợp.

5/ Thu hoạch:

Nuôi khoảng 5 tháng, cá đạt trọng lượng trung bình từ 2-3con/kg thì thu hoạch, cũng có thể để cá lớn hơn tùy theo thị trường tiêu thụ. Khi thu hoạch bằng rọ, tránh để cá bị xây xát, bảo quản cá sống lâu hơn. Nếu quản lý và chăm sóc ao nuôi tốt, thì hệ số chuyển hóa thức ăn từ 1 – 1,4kg được 1kg cá. Tỉ lệ sống trung bình từ 60 – 80%.

Võ Thành Cơn, Đồng Khởi, 25 / 10 / 2012 chúng tôi

Mô hình nuôi cá lóc bằng thức ăn công nghiệp

Gần đây, phong trào nuôi cá lóc thương phẩm ở Bình Thuận phát triển mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế ổn định cho người dân địa phương. Tuy nhiên, đối với nghề nuôi cá lóc hiện nay, khó khăn lớn nhất là quản lý nguồn nước và nguồn thức ăn cá tạp tươi đảm bảo chất lượng và số lượng.

Vào mùa gió bấc (thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) nguồn cá biển khan hiếm và giá lúc này cũng tăng cao nhiều so với vụ cá nam (thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9). Bên cạnh đó, Bình Thuận không phải là một tỉnh có nguồn nước ngọt dồi dào như các tỉnh miền Tây Nam bộ, do đó cá lóc chỉ phù hợp với một số địa điểm – nơi có nguồn nước ngọt dồi dào quanh năm – để thuận lợi cho việc thay nước hàng ngày trong ao cá.

Ngoài ra, việc cho ăn bằng thức ăn tươi sống gây ô nhiễm nhanh chóng nguồn nước trong ao, và để giảm thiểu tình trạng cá bệnh người nuôi phải thay nước hàng ngày hoặc cho nước vào ra liên tục trong ao. Một số vùng nuôi không có điều kiện nguồn nước thuận lợi, việc nuôi cá lóc trở nên rất khó khăn do cá thường xuyên bị bệnh, việc sử dụng các loại thuốc kháng sinh, hóa chất diệt khuẩn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng. Bên cạnh đó, do chất lượng cá tạp phải đảm bảo tươi nên hàng ngày người dân phải đi mua cá về sau đó tiến hành sơ chế (rửa, xay hoặc chặt…) rồi mới cho cá ăn. Công việc này tốn nhiều thời gian, công sức và tiền của người dân.

Để góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình sản xuất của người dân, tháng 8/2011, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Bình Thuận đã thực hiện mô hình “Nuôi cá lóc bằng thức ăn công nghiệp” với quy mô 500m2 tại hộ ông Châu Minh Tâm, xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong. Mô hình nghiệm thu ngày 26/12/2011. Qua gần 4 tháng nuôi cá đạt cỡ trung bình 420g/con, tỷ lệ sống đạt 60%. Kết quả cho thấy cá lóc thích nghi tốt với điều kiện môi trường, nguồn nước khu vực nuôi. Cá lóc cũng thích nghi tốt với thức ăn công nghiệp và đạt tốc độ tăng trưởng tốt.

Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Bình Thuận giới thiệu tóm tắt quy trình thực hiện như sau:

1. Chuẩn bị ao nuôi:

– Diện tích ao nuôi: 2.000-5.000m2. Diện tích lớn sẽ tương đối khó khăn trong việc quản lý và chăm sóc cá.

– Đối với ao mới phải súc rửa ao bằng cách cho nước vào ao ngâm khoản 2-3 ngày sau đó xả bỏ rồi tiếp tục cấp nước vào ngâm rồi xả bỏ. Tiến hành quá trình súc rửa trên ít nhất 2-3 lần trước khi thả giống để có môi trường ao nuôi ổn định cho cá phát triển.

– Đối với ao đã qua sử dụng: Xả cạn nước ao, súc rửa hoặc sên vét bùn cho sạch. Gia cố bờ, cống, lưới rào ao đề phòng địch hại như ếch, rắn, chim cò ăn cá. Chích điện hoặc dùng Saponin (10kg/1.000m2) để diệt cá tạp còn sót trong ao. Bón vôi với lượng tùy thuộc vào độ phèn của đất. Sau đó phơi ao 5-7 ngày thì cấp nước vào.

Đối với những ao phèn thì không tháo sạch nước để tránh xì phèn.

Nhu cầu bón vôi phù hợp với loại đất và pH đất:

– Cấp nước vào ao qua lưới lọc để tránh cá tạp và địch hại vào ao ăn cá. Mực nước cấp vào từ 0,6-0,8m. Gây màu nước bằng hỗn hợp cám gạo (1kg) + Bột đậu nành (1kg) hòa với nước ngâm qua đêm tạt đều cho 1.000m2. Ngày tạt 2 lần, tối ngâm thì sáng tạt, sáng ngâm thì chiều (16-17h) tạt. Bổ sung thêm mỗi ngày 2kg cá tạp nấu chín xay nhuyễn tạt đều ao để màu nước lên tốt hơn. Sau 2-3 ngày màu nước lên tốt thì tiến hành thả cá giống. Cũng có thể gây màu nước bằng nhiều cách khác như sử dụng phân hóa học, phân chuồng hoặc chế phẩm sinh học gây màu nước.

2. Thả giống:

– Mật độ nuôi: Cá lóc là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao tuy nhiên chi phí cho vụ nuôi tương đối lớn, do đó tùy thuộc vào điều kiện nguồn nước, ao hồ và kinh tế gia đình mà người dân quyết định mật độ nuôi thưa hay dày. Thường cá lóc được nuôi ở mật độ 20-30con/m2. Ao có nguồn nước không thật thuận lợi thì chỉ nên nuôi mật độ thưa không quá 10con/m2.

– Mùa vụ thả giống: Do chủ động về nguồn thức ăn nên người nuôi có thể thả giống quanh năm, tùy điều kiện nguồn nước, nguồn giống và tính toán giá thành sau thu hoạch. Mùa vụ chính thả giống là từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, lúc này nguồn cá giống và nguồn nước cũng dồi dào tuy nhiên giá thương phẩm sau thu hoạch thường thấp hơn so với vụ nghịch do sản lượng thu hoạch dồi dào từ nhiều địa phương.

– Chọn giống: Con giống đồng đều về kích cỡ, khỏe mạnh, màu sắc sáng đẹp, thân hình cân đối, không mang các dấu hiệu nhiễm bệnh. Tốt hơn hết người dân nên chọn mua tại các cơ sở sản xuất uy tín.

3. Thức ăn và cách cho ăn:

a. Trường hợp cho cá ăn bằng cám công nghiệp ngay từ nhỏ:

Do cá giống mới thả còn nhỏ, chưa quen với việc ăn bằng cám viên công nghiệp nên việc tập cho cá chuyển đổi loại thức ăn cần tiến hành theo các bước sau:

* Giai đoạn tập ăn 1: Tập cho cá quen với mùi vị thức ăn công nghiệp:

– Cá giống mới thả: Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 10% trọng lượng đàn cá. Phối trộn theo tỷ lệ: 70% cá tạp tươi + 30% cám công nghiệp. Nếu là dạng cám bột thì trộn vào chung với cá tạp theo tỷ lệ trên rồi xay nhuyễn, trường hợp cám viên thì ngâm qua nước cho mềm sau đó trộn chung với cá tạp tươi rồi xay nhuyễn.

– Hỗn hợp thức ăn sau khi xay nhuyễn được cho vào sàng để cá vào ăn.

– Mỗi ngày tăng 10% lượng cám công nghiệp trong tỷ lệ phối trộn cho đến khi đạt tỷ lệ 50% cá tạp

+ 50% cám công nghiệp thì chuyển sang giai đoạn tập ăn cám viên.

* Giai đoạn tập ăn 2: Tập cho cá quen ăn thức ăn dạng viên:

– Sau khoản 5ngày tập, cá ăn quen với mùi vị cám công nghiệp thì tiếp tục tập cho cá ăn dạng thức ăn viên.

– Cách thực hiện: Trộn thêm 5% cám công nghiệp dạng viên (trong tổng lượng thức ăn cho cá ăn hàng ngày). Ban đầu cám nên được ngâm nước trước cho mềm rồi trộn chung với hỗn hợp thức ăn đã xay nhuyễn của giai đoạn tập ăn 1. Hỗn hợp thức ăn trên được rải xuống sàng để cho cá ăn. Ban đầu có thể cá chưa quen sẽ nhả các hạt thức ăn viên ra, trường hợp như vậy cần tập tiếp với tỷ lệ phối trộn như trên thêm 2-3ngày nữa cho đến khi cá không còn nhả các viên thức ăn ra nữa thì thôi.

– Những ngày sau đó thì lượng cám viên tiếp tục tăng lên 10%/ngày đồng thời thời gian ngâm nước cũng ngắn dần cho đến khi không ngâm nữa (cho cá ăn quen với thức ăn viên cứng). Khi thấy cá đã hoàn toàn quen với việc ăn thức ăn viên thì chuyển hoàn toàn sang cho ăn bằng thức ăn viên công nghiệp.

* Giai đoạn cho ăn hoàn toàn bằng cám viên:

– Từ tháng thứ hai đến khi thu hoạch: Cá đã ăn quen cám viên thì cho ăn hoàn toàn bằng cám viên. Khẩu phần thức ăn dao động từ 3-7% trọng lượng thân, tùy giai đoạn phát triển của cá. Do chất lượng của từng loại cám viên khác nhau vì vậy người dân nên cho ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất để đạt hiệu quả tốt nhất.

– Ở giai đoạn này thức ăn được rải trực tiếp xuống ao cho cá ăn, không còn cho ăn trong sàng nữa.

b. Trường hợp tập cho cá ăn bằng cám công nghiệp khi cần thiết:

Do tập tính tạp ăn của cá người dân hoàn toàn có thể chuyển đổi linh hoạt trong việc sử dụng thức ăn công nghiệp và cá tạp vào bất cứ lúc nào trong suốt vụ nuôi nhằm chủ động về nguồn thức ăn đồng thời giảm chi phí về thức ăn. Đối với cá đã nuôi thương phẩm trên 1tháng, việc tập cho cá chuyển sang ăn cám viên công nghiệp là tương đối dễ dàng, giúp người dân hoàn toàn chủ động về thức ăn cho cá. Bỏ cá nhịn đói 1ngày sau đó trộn cám viên đã ngâm nước với cá tạp đã xay nhuyễn theo tỷ lệ 70% cá tạp + 30% cám viên. Các bước thực hiện được tiến hành như giai đoạn tập ăn 2. Sẽ chỉ mất từ 3-5ngày để cá quen với việc ăn bằng thức ăn viên công nghiệp.

4. Chăm sóc và quản lý:

– Theo dõi tình trạng ăn mồi, thời tiết và sức khỏe của cá hàng ngày để tăng hoặc giảm lượng thức ăn cho phù hợp. Cho ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất, không cho ăn quá nhiều tránh tình trạng cá bị chướng bụng chết.

– Do cho ăn bằng cám công nghiệp nên môi trường nước cũng ít ô nhiễm hơn nhiều so với nuôi bằng cá tạp. Tuy nhiên, đối với vùng nuôi có nguồn nước ngọt ra vào chủ động thì cho nước ra vào ao thường xuyên hàng ngày để kích thích cá ăn mồi và phát triển. Đối với những vùng không có điều kiện nguồn nước dồi dào nên tiến hành thay nước 2-3 tuần 1 lần tùy tình trạng môi trường và sức khỏe cá trong ao, đồng thời định kỳ 7-15 ngày bổ sung chế phẩm sinh học giúp phân hủy chất thải, khí độc và ổn định môi trường ao nuôi.

Đảm bảo từng khâu trong quy trình khuyến cáo, mô hình có thể áp dụng được rộng rãi tại tất cả các vùng nuôi thủy sản nước ngọt trong tỉnh, góp phần giải quyết khó khăn trong việc quản lý nguồn nước và đảm bảo nguồn thức ăn cá tạp tươi trong quy trình nuôi truyền thống.

Việc sử dụng thức ăn công nghiệp thay thế cho thức ăn cá tạp trong quy trình nuôi cá lóc thương phẩm có nhiều ưu điểm so với quy trình nuôi truyền thống sử dụng thức ăn cá tạp:

– Không tốn nhiều công sức để đi mua và sơ chế trước khi cho ăn, giảm hẳn chi phí thuê nhân công.

– Nguồn cung cấp và chất lượng thức ăn luôn chủ động và ổn định.

– Giảm hẳn chi phí cho việc bổ sung các loại thuốc bổ giúp cá nâng cao sức đề kháng và tiêu hoá tốt do trong thức ăn công nghiệp các thành phần trên đã được tính toán phối trộn cẩn thận theo nhu cầu của cá.

– Ít gây ô nhiễm nguồn nước do đó giảm nhu cầu sử dụng nguồn nước và giảm tình trạng cá nhiễm bệnh do môi trường bị ô nhiễm mà không có nước thay.

– Giảm hẳn việc sử dụng kháng sinh và hoá chất trong quá trình nuôi.

– Thích hợp với những vùng nuôi xa nguồn cung cấp cá tạp và có nguồn nước không thật thuận lợi.

Nuôi Cá Trắm Đen Bằng Thức Ăn Công Nghiệp: Mô Hình Nhiều Triển Vọng

Sau gần 8 tháng, tỷ lệ sống của cá ước đạt 80%, trọng lượng cá trung bình đạt 1,2 kg/con, ước tính trừ chi phí gia đình thu lãi trên 15 triệu đồng. Còn hộ bà Trịnh Thị Thơ (thôn 3, xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn) cho biết, sau thời gian 8 tháng nuôi cho thấy cá lớn nhanh, trung bình đạt 1,5kg/con, chất lượng cá thương phẩm tốt. Với giá bán hiện nay khoảng từ 140.000-180.000 đồng/kg thì lợi nhuận mà cá trắm đen mang lại là rất lớn và cao hơn các loại cá truyền thống khác từ 3-4 lần. Gia đình dự kiến sẽ để nuôi thêm một thời gian để cá đạt trọng lượng và chất lượng cao hơn mới bán ra ngoài thị trường với giá tốt hơn. Nhiều nông dân đến tham quan mô hình cũng đã đánh giá cao về hiệu quả kinh tế của loại cá này. Theo anh Trần Công Bảy (thôn 3, xã Ea Wer, Buôn Đôn), gia đình anh hiện có 5 sào mặt nước nuôi các loại cá rô phi, trắm cỏ… nhưng đầu ra rất bấp bênh. Anh đã tìm hiểu và thấy loại cá trắm đen rất có tiềm năng về kinh tế vì giá trị cao mà nhu cầu cũng đang nhiều, nhất là các tỉnh phía Bắc. Thời gian tới, anh sẽ thử nuôi lồng ghép để tìm kiếm thị trường trên địa bàn tỉnh.

Theo đánh giá của Chi cục Thủy sản, Dak Lak có nhiều tiềm năng phát triển thủy sản nội đồng, có sự đa dạng về loại hình có thể đưa vào nuôi trồng, khai thác như ao hồ nhỏ (hộ gia đình), ruộng trũng, sông suối và đặc biệt là trên các hồ đập (hồ thủy lợi, hồ thủy điện, đập dâng, hồ tự nhiên). Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 42.000 ha diện tích mặt nước chuyên dùng và sông suối có khả năng nuôi trồng và khai thác thủy sản. Năm 2014, diện tích mặt nước đưa vào nuôi trồng thủy sản 9.522 ha, sản lượng nuôi trồng đạt 16.500 tấn, gồm các đối tượng cá truyền thống, cá rô phi, thủy đặc sản và cá nước lạnh. Những năm qua, Chi cục luôn khuyến cáo người dân chuyển đổi tỷ lệ cơ cấu đàn cá nuôi, chuyển dần sang các đối tượng thủy đặc sản có giá trị kinh tế cao, tận dụng diện tích mặt nước hồ chứa để phát triển nghề nuôi cá theo hướng công nghiệp hoặc bán công nghiệp. Chính vì vậy, sự thành công của mô hình cá trắm đen sẽ mở ra hướng mới để nông dân lựa chọn chuyển đổi cơ cấu đàn cá nuôi bởi đây là loại cá có giá trị kinh tế cao, thời gian sinh trưởng ngắn, phù hợp với điều kiện tự nhiên ở Dak Lak. Bên cạnh đó, cá trắm đen trên thị trường Dak Lak rất ít, giá bán lại khá tốt, nhu cầu người mua rất nhiều, nhất là các nhà hàng, quán nhậu. Theo bà Trần Thị Thủy, Phó trưởng Phòng NN-PTNT huyện Buôn Đôn, trên địa bàn huyện có khoảng 80 ha mặt nước ao, hồ nuôi các loại cá truyền thống quy mô nhỏ, giá trị kinh tế không cao. Nuôi cá trắm đen bằng cám viên tổng hợp là mô hình phù hợp đối với phát triển thủy sản trên địa bàn, sau khi tham quan mô hình, rất nhiều hộ có ý định sẽ chuyển sang nuôi giống cá này. Do vậy, địa phương cần có sự hỗ trợ của Chi cục về tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật cho bà con nuôi đạt hiệu quả tốt nhất.

Theo ông Nguyễn Bá Sơn, cán bộ Chi cục Thủy sản, cá trắm đen là loại cá quý, có giá trị kinh tế cao hơn so với các loại cá truyền thống khác nhưng nông dân không nên phát triển theo phong trào dẫn đến thị trường bão hòa, rớt giá. Bên cạnh đó, để có được con giống đảm bảo chất lượng, sạch bệnh, người nuôi nên tìm đến các trại giống, các trung tâm có uy tín để mua được con giống tốt. Trong thời gian tới, Chi cục Thủy sản sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật cũng như tư vấn về con giống cho cá nhân và địa phương có nhu cầu nuôi.

Khởi Nghiệp Với Mô Hình Nuôi Cá Lóc Bông

Rồi anh Tèo tìm tòi trên internet, đến tận nơi cung cấp nguồn cá giống ở các tỉnh miền Tây để học hỏi, mua giống. Sau đó, anh đã đào 500m2 đất vườn để thả nuôi 20.000 con cá lóc bông. Qua 6 tháng nuôi, ao cá của anh cho những tín hiệu tích cực. Dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018, anh đã xuất bán được 1.000kg cá lóc thương phẩm với giá hữu nghị cho bà con trong vùng ăn tết. “Những ngày tết, người dân ai cũng rất ngán thịt, mỡ. Món ngon dịp này là cá lóc nướng, nấu lẩu chua… Đồng thời, tôi cũng biết trong tỉnh chưa có nơi nào nuôi được cá lóc bông nên tôi mới làm gan thử nghiệm. Nếu thành công, HTX sẽ mở quầy hàng tự xuất bán tại nhiều chợ trong tỉnh để phục vụ nhu cầu của bà con”.

Theo anh Tèo, nuôi cá lóc bông không khó vì qua thời gian nuôi nhận thấy cá rất khỏe, ít bệnh, tỷ lệ hao hụt không đáng kể. Với điều kiện khí hậu của tỉnh ta thì có thể nuôi cá lóc bông quanh năm. Thức ăn cho cá chủ yếu là cá biển, cá vụn, cua, ốc… Lúc cá còn nhỏ thức ăn cần được xay nát hoặc băm nhỏ. Mỗi ngày, anh Tèo tiêu tốn hơn 200.000 đồng với 20.000 con cá cho một ao nuôi 500m2. Khi cá được 3 tháng trở lên, đạt trọng lượng từ 500 gram thì có thể cho cá ăn miếng to hơn và một ngày anh tiêu tốn khoảng 4 triệu đồng tiền thức ăn cho ao cá.

Anh Tèo chia sẻ thêm: “Từ khi thả đến khi thu hoạch loài cá này mất từ 6-7 tháng, cân nặng bình quân đạt 1kg/con. Tôi ước tính 4kg cá mồi sẽ cho ra 1kg cá thương phẩm. Mô hình của tôi nuôi toàn là thức ăn tự nhiên nên cá đạt trọng lượng tốt, giữ được sản lượng. Dự tính đầu tháng 3 này tôi sẽ bán cá với sản lượng trên 10 tấn, giá bán dao động 60.000-100.000 đồng/kg. Với sản lượng trên ước tổng doanh thu sẽ đạt 1 tỉ đồng, lợi nhuận khoảng 60% sau khi trừ chi phí”.

Bên cạnh cá lóc bông, anh Tèo cùng thành viên còn trồng sầu riêng Monthong với quy mô 3ha, 600 cây giống. Vốn khởi nghiệp là 500 triệu đồng, được HTX vay từ nguồn quỹ hỗ trợ HTX của tỉnh. Loại sầu riêng này luôn bán được giá cao, trung bình 70.000 đồng/kg. 11 thành viên HTX còn trồng xen 1.000 cây mít Thái siêu sớm, chuối và các loại rau màu khác để lấy ngắn nuôi dài. Ngoài ra, HTX còn làm thêm dịch vụ cung ứng cây giống sầu riêng, thu mua trái cây với doanh thu hơn 1 tỉ đồng mỗi năm.

Theo ông Trần Văn Thắng, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh, dù thành lập mới hơn 1 năm nhưng HTX rất tâm huyết, đoàn kết cùng làm ăn phát triển kinh tế, đem lại lợi ích cho nhiều thành viên. Các dịch vụ của HTX đã giúp tạo việc làm thường xuyên cho hơn 10 lao động trong xã. Tuy còn non trẻ nhưng HTX đã gặt hái thành công bước đầu từ sự đoàn kết, vì lợi ích chung cho thành viên và người dân, đi đúng hướng của HTX kiểu mới. HTX có những thanh niên dám nghĩ dám làm như anh Tèo, dám mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã mở ra hướng đi mới cho nhiều nông dân trong tỉnh.

Bài, ảnh: TRÚC LINH

Lưu Ý Khi Nuôi Cá Trắm Đen Bằng Thức Ăn Công Nghiệp

Cá trắm đen là loài có thịt thơm ngon, kích cỡ thương phẩm lớn, giá trị kinh tế cao, tuy nhiên nó chỉ được nuôi xen ghép trong ao, hồ với một số đối tượng như cá mè, trôi, rô phi… vì thức ăn chủ yếu là các loại ốc sên, ốc nhồi, ốc bươu… số lượng có hạn.

Để có thể nâng mật độ nuôi của cá trắm đen trong ao/hồ nhằm tăng năng suất hiệu quả thì cần chủ động được nguồn thức ăn. Năm 2017 Trung tâm Khuyến nông Nghệ an đã xây dựng thành công mô hình này ở địa bàn thành phố vinh và năm 2018 tiếp tục xây dựng tại huyện Hưng nguyên với các giải pháp đưa ra đó là: Điều kiện ao nuôi: Diện tích 2.000 – 5.000 m 2, độ sâu nước: 2,0 – 3,0 m, lớp bùn đáy ao 20 – 30 cm. Ao được xây dựng ở nơi thoáng đãng, không bị cớm rợp. Bờ ao bằng đất, lát bê tông hoặc xây gạch, chiều cao bờ hơn mức nước cao nhất hàng năm để hạn chế thất thoát cá vào mùa mưa; cống cấp và cống thoát nư¬ớc đảm bảo thuận tiện cho việc cấp và thoát n¬ước dễ dàng. Nguồn nước cấp vào phải chủ động, không bị ô nhiễm, thuận lợi giao thông đi lại và nguồn điện.

Cải tạo ao: Ao nuôi được tháo cạn nước, dọn sạch đáy và xung quanh bờ ao, vét bớt bùn đáy ao chỉ để lại 20 – 30 cm, lấp hết các hang hốc quanh bờ ao, tu sửa bờ ao và khắc phục chỗ rò rỉ. Dùng vôi bột khử trùng đáy ao với lư¬ợng 7 – 10 kg/100 m 2 ao. Phơi đáy ao 2 – 3 ngày sau đó lấy n¬ước vào ao thông qua lưới lọc để hạn chế cá tạp. Sau khi lấy nước từ 4 – 5 ngày tiến hành thả cá giống.

Chọn và thả giống: Chọn cá giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, cá khoẻ mạnh, không dị hình, dị tật, không có dấu hiệu bệnh lý. Cá đồng đều, cân đối, không bị xây xát, không mất nhớt, bơi lội nhanh nhẹn, bơi chìm trong nước theo đàn. Tùy thuộc điều kiện cụ thể của ao và trình độ kỹ thuật của chủ hộ mà định ra mật độ nuôi phù hợp, có thể thả 0,5 – 1,0 con/m 2, cỡ giống thả trên 10 cm/con. Có thể nuôi ghép với một số đối tượng không cạnh tranh thức ăn như: Mè trắng với mật độ 0,1 con/m 2 (1 con/10 m 2). Cá giống được thả vào sáng sớm hoặc chiều mát, thả từ từ để cá thích nghi với môi trường ao nuôi. Trước khi thả tắm cho cá bằng dung dịch nước muối 2 – 3% trong thời gian 5 – 10 phút.

Chăm sóc và quản lý: Thức ăn nuôi cá Trắm đen là thức ăn hỗn hợp dạng viên nổi có thành phần dinh dưỡng 42% protein và 7% lipid. Kích cỡ viên thức ăn, khẩu phần ăn theo (bảng 1). Cho cá ăn 2 lần/ngày vào sáng sớm và chiều mát. Có thể bổ sung thêm ốc khoảng 10 ngày cho ăn 1 lần, khối lượng ốc bằng 5% lượng cá trong ao.

Bảng 1: Thức ăn và khẩu phần ăn

Thức ăn được bảo quản trong kho thoáng mát, kê cao khỏi mặt sàn và sử dụng đúng thời hạn. Không cho cá ăn thức ăn đã hết hạn sử dụng hoặc bị mốc. Thường xuyên kiểm tra ao nuôi, khả năng sử dụng thức ăn và tình trạng sức khỏe của cá. Hàng tháng cân 5 – 10 cá thể, tính khối lượng trung bình làm cơ sở tính toán lượng cá trong ao và lượng thức ăn.

Hàng tuần kiểm tra chất lượng nước ao nuôi, đảm bảo chất lượng nước đạt yêu cầu theo (bảng 2).

Bảng 2. Một số thông số môi trường trong ao nuôi.

Thường xuyên bón thêm chế phẩm sinh học, EM ủ với rỉ mật … nhằm cải thiện chất lượng nước.

Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp trong suốt quá trình nuôi (hạn chế mầm bệnh, chọn con giống tốt sạch bệnh, cho cá ăn đủ lượng và chất để tăng sức đề kháng cho cá, cải tạo môi trường ao nuôi)

Sau thời gian nuôi trên 1 năm cá đạt kích cỡ trên 2,0 kg/con có thể tiến hành thu tỉa để giảm mật độ. Trước khi thu hoạch 2 – 3 ngày giảm dần lượng thức ăn rồi dừng ăn. Cần chuẩn bị đầy đủ các vật dụng phục vụ cho công tác thu hoạch (lưới, vợt, đá lạnh …) thao tác nhanh, tránh đánh bắt cá nhiều lần trong ngày, cá thương phẩm cần được vận chuyển bằng nước sạch, mát và cung cấp đủ lượng ô xy hòa tan.

Bạn đang xem bài viết Mô Hình Nuôi Cá Lóc Bằng Thức Ăn Công Nghiệp trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!