Xem Nhiều 2/2023 #️ Mô Hình Nuôi Cá Bống Bớp Trong Ao Nước Lợ Tại Thành Phố Vinh # Top 11 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 2/2023 # Mô Hình Nuôi Cá Bống Bớp Trong Ao Nước Lợ Tại Thành Phố Vinh # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Mô Hình Nuôi Cá Bống Bớp Trong Ao Nước Lợ Tại Thành Phố Vinh mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mô hình nuôi cá bống bớp trong ao nước lợ tại thành phố Vinh

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Việt Nam, cá bống bớp được nuôi khá phổ biến trong các đầm ao nước lợ ở các tỉnh ven biển miền Bắc như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình… và đã trở thành đối tượng để phát triển kinh tế của người nuôi trồng thủy sản ở những vùng này. Đây là đối tượng hải đặc sản có giá trị dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon rất được thị trường trong, ngoài nước ưa chuộng. Đây là loài cá có thịt lành, bổ, giá tiêu thụ dao động từ 220.000 – 300.000 đồng/kg. Loại cá này không chỉ được tiêu thụ mạnh trong nước mà còn được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Hồng Kông và nhiều nước Châu Á khác nên có thể trở thành đối tượng nuôi có triển vọng.

Hưng Hòa là vùng có truyền thống về nuôi trồng thủy sản của thành phố Vinh – Nghệ An, đặc biệt là nuôi tôm. Nhưng tôm là đối tượng nuôi cần vốn đầu tư lớn, lại dễ gặp rủi ro, cùng với tình hình dịch bệnh xảy ra thường xuyên trong những năm gần đây đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế cũng như tâm lý của các hộ nuôi trong vùng. Tìm ra đối tượng nuôi phù hợp, có giá trị kinh tế cao để thay thế là mối quan tâm của người dân. Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ xây dựng mô hình nuôi cá bống bớp (Bostrichthys sinnensis Lacepede, 1801) trong ao nước lợ tại Thành phố Vinh” được triển khai thực hiện nhằm thăm dò khả năng thích nghi và phát triển của đối tượng nuôi này trong điều kiện sinh thái vùng nuôi thành phố Vinh. Mục tiêu của dự án là xây dựng thành công mô hình nuôi cá bống bớp thương phẩm trong ao nước lợ đạt năng suất 10 tấn/ha, góp phần đa dạng hóa loài nuôi, tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. Kết quả khảo sát, lựa chọn địa điểm thực hiện dự án

Tiêu chí lựa chọn địa điểm nuôi: Ao có độ sâu 1,5m, có cống cấp và tiêu nước riêng biệt; có chất đáy đất thịt, bùn pha cát; độ mặn dao động từ 5-25‰; nguồn nước chủ động; có hệ thống giao thông, điện lưới thuận lợi, đảm bảo an ninh.

Từ tiêu chí trên, sau khi khảo sát thực tế tại xã Hưng Hòa – thành phố Vinh Vinh, đã lựa chọn được 2 hộ dân tham gia thực hiện dự án, đó là: hộ ông Nguyễn Văn Tuấn và hộ ông Lưu Văn Hồng ở xóm Phong Yên với diện tích ao nuôi của mỗi hộ là 2.500m2.

2. Kết quả tham quan học tập kinh nghiệm

Phân viện Nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ đã tổ chức cho cán bộ đi tham quan học tập kinh nghiệm triển khai xây dựng mô hình nuôi cá bống bớp tại xã Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là nơi mà nghề nuôi cá bống bớp đã được phổ biến từ trước năm 1900. Qua chuyến thực tế, cán bộ thực hiện dự án đã tìm hiểu, nắm bắt được kỹ thuật chuẩn bị, cải tạo ương và nuôi thương phẩm cá bống bớp; một số kinh nghiệm về ương nuôi cá bống bớp như: vận chuyển cá hương, cá giống, theo dõi chăm sóc, quản lý môi trường và phòng trừ dịch bệnh.

Sau chuyến tham quan học tập kinh nghiệm, Phân viện nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung Bộ (Bên A) đã tiến hành ký hợp đồng chuyển giao công nghệ nuôi thương phẩm cá bống bớp với Trung tâm Quốc gia Giống hải sản miền Bắc (Bên B).

3. Kết quả xây dựng mô hình

3.1. Ương cá hương lên cá giống

* Đợt 1 (năm 2009): Ương cá trong giai

Kích thước giai ương 12m2 (dài 3m, rộng 4m, sâu 1,8m). Số lượng cá thả: 5.000 con, sau 1,5 tháng nuôi, cá đạt kích thước trung bình 5,5cm, thu được 3.700 con, tỷ lệ sống đạt 74%.

* Đợt 2 (năm 2010): Ương cá trong ao

Ao ương có diện tích 2.500m2, độ sâu 1,2m, pH đất 6,5, có hệ thống bờ bao chắc chắn, hệ thống cấp và thoát nước đầy đủ. Ao được cải tạo, gây màu nước và thức ăn tự nhiên theo đúng yêu cầu kỹ thuật. Số lượng cá thả: 110.000 con, mật độ 44 con/m2. Sau 1,5 tháng nuôi thu được 89.650 con, tỷ lệ sống đạt 81,5%.

Tổng lượng cá giống thu được trong cả hai đợt nuôi là 93.530 con.

Bảng 1: Tăng trưởng của cá bống bớp giai đoạn cá hương lên cá giống

Thời gian nuôi (ngày)

Đợt 1

Đợt 2

Trọng lượng TB (g)

Chiều dài TB (cm)

Trọng lượng TB (g)

Chiều dài TB (cm)

Bắt đầu

0,08 ± 0,022

2,0 ± 0,034

0,1 ± 0,027

2,3 ± 0,457

15

2,30 ± 0,367

3,1 ± 0,423

2,7 ± 0,372

3,2 ± 0,447

30

3,20 ± 0,521

4,1 ± 0,511

4,2 ± 0,490

4,5 ± 0,564

45

4,60 ± 0,672

5,5 ± 0,734

6,6 ± 0,648

7,1 ± 0,831

Kết quả sau 1,5 tháng ương nuôi cho thấy, cá ương ở đợt 1 có tỷ lệ sống và tăng trưởng thấp hơn cá ương đợt 2. Nguyên nhân là do mật độ ương trong giai (416 con/m2) dày hơn so với mật độ ương trong ao (44 con/m2). Ngoài ra, việc gây màu nước tốt giúp cho thức ăn tự nhiên trong ao phát triển (đặc biệt là copepod) làm nguồn thức ăn bổ sung cho cá tăng trưởng và đạt tỷ lệ sống cao.

3.2. Nuôi thương phẩm cá bống bớp

* Đợt 1  (Vụ nuôi năm 2009):  Thả cá với số lượng 85.000 con. Cá được vận chuyển kín bằng túi nilon có bơm oxy. Thời gian vận chuyển từ Hải Phòng đến Nghệ An mất 6 tiếng. Cá được thả vào 2 ao, mỗi ao có diện tích 2.500m2, mật độ thả là 15 con/m2. Định kỳ 15 ngày/lần kiểm tra tốc độ tăng trưởng của cá bằng cách đo chiều dài và cân trọng lượng để từ đó điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp. Tuy nhiên, sau 6 tháng nuôi, khi cá đạt kích cỡ từ 68-130g, do ao bị rò rỉ, nguồn nước cấp vào bị hạn chế nên phải tiến hành thu hoạch. Kết quả thu hoạch đạt 5.761kg cá, trong đó ao 1 thu được 2.801kg, tỷ lệ sống đạt 79%; ao 2 thu được 2.920kg, tỷ lệ sống đạt 88%. Năng suất bình quân đạt 11,52 tấn/ha.

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng trọng lượng của cá bống bớp ở vụ nuôi năm 2009

Chỉ số

Thời gian

nuôi (tháng)

Ao 1

Ao 2

Trọng lượng trung bình (g/con)

Tăng trưởng tương đối theo ngày (g/ngày)

Trọng lượng trung bình (g/con)

Tăng trưởng tương đối theo ngày (g/ngày)

Thả giống

  7,2 ± 0,88

  6,9 ± 0,76

1

12,4 ± 1,34

0,17

11,9 ± 0,86

0,17

2

25,2 ± 1,72

0,43

23,3 ± 0,59

0,38

3

45,3 ± 2,55

0,67

41,1 ± 1,95

0,59

4

66,4 ± 4,36

0,7

59,9 ± 1,98

0,63

5

85,3 ± 8,53

0,63

76,1 ± 7,81

0,54

6

   98,0 ± 16,51

0,42

  83,0 ± 11,25

0,23

Số liệu bảng 2 cho thấy, từ tháng nuôi thứ nhất đến tháng nuôi thứ 4, cá phát triển nhanh. Tháng thứ 5 đến tháng thứ 6, cá bắt đầu có hiện tượng giảm tốc độ tăng trưởng, do thời gian này (khoảng tháng 11 đến tháng 12 trong năm) thời tiết xuất hiện gió mùa, nhiệt độ giảm xuống thấp, cá giảm ăn.

* Đợt 2 (Vụ nuôi năm 2010): Ao được cải tạo đúng quy trình kỹ thuật, gây màu nước giống như ao nuôi vụ 1. Vụ nuôi này sử dụng con giống thu được trong ao ương. Số lượng 89.650 con, kích thước cá trung bình 7,1cm. Cá được sàng lọc và phân thành 2 loại và bố trí nuôi trong 2 ao (bảng 3).

Bảng 3: Phân loại thả cá giống theo các chỉ số

Chỉ số

Đợt 1

Đợt 2

Ao 1

Ao 2

Ao 1

Ao 2

Chiều dài trung bình (cm)

7,8 ± 0,88

8,8 ± 0,57

6,4 ± 0,57

7,7 ± 0,67

Trọng lượng trung bình (gam)

6,9 ± 0,77

7,2 ± 0,88

6,1 ± 0,65

7,0 ± 0,59

Ở vụ nuôi thứ 2, thức ăn sử dụng nuôi cá là thức ăn tươi, gồm: cá tươi, tép tươi băm nhỏ. Chế độ chăm sóc ở vụ 2 cũng giống như vụ 1.

Sau 3,5 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng trung bình 58g/con, chiều dài đạt 16,6cm, nhưng đợt lũ lịch sử tháng 10/2010 đã làm ngập toàn bộ diện tích ao nuôi cá. Mực nước đo được tính từ đáy ao lên mặt ao là 2,5m, mặc dù chủ hộ nuôi đã dùng nhiều biện pháp phòng chống như giăng lưới quanh ao nhưng không hiệu quả. Gần như toàn bộ cá thả trong ao bị thất thoát ra ngoài, sản lượng ước đạt 4.500kg (số liệu thu được trước lũ 2 ngày).

Kết quả 2 vụ nuôi cho thấy, nên chọn thời điểm sớm trong năm để nuôi cá bống bớp nhằm hạn chế rủi ro do thiên tai (bão, lụt) cũng như tránh thời điểm nuôi vào mùa đông vì mùa này cá chậm lớn.

Tổng sản lượng thu hoạch cá bống bớp thương phẩm cả hai vụ nuôi là 10.226kg là kết quả khả quan, tương đương sản lượng cá đạt được/ha ở vùng nuôi Nghĩa Hưng – Nam Định.

4. Hiệu quả kinh tế – xã hội

4.1. Hiệu quả kinh tế

Cá bống bớp là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ rộng. Hiện tại giá bán trung bình trên thị trường là 220.000-250.000đồng/kg. Theo tính toán, nuôi 1kg cá bống bớp thương phẩm từ cá giống (kích thước 6-8cm) đem lại lợi nhuận 55.000 đồng. Nếu chọn cá giống nuôi ở giai đoạn cá hương sẽ giảm chi phí giống từ 2.000-2.500 đồng/con, mỗi ao nuôi (diện tích 2.500m2, mật độ 15 con/m2) sẽ giảm được chi phí đầu tư từ 85-100 triệu đồng. Vì vậy, nên chọn giống cỡ nhỏ (khoảng 2cm) để nuôi lên thương phẩm nhằm giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế.

4.2. Hiệu quả xã hội

Dự án được triển khai trên vùng nuôi mặn lợ (Hưng Hòa – thành phố Vinh) đã ương nuôi thành công một đối tượng nuôi có giá trị, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi trồng thủy sản, giúp bà con nông dân có hướng đi thích hợp nhằm phát triển kinh tế và phục hồi vùng nuôi. Thực tế, sau khi mô hình được triển khai có kết quả, một số hộ dân vùng thực hiện dự án và các vùng lân cận như Nghi Lộc – Nghệ An và Nghi Xuân – Hà Tĩnh đã tiến hành nuôi thương phẩm cá bống bớp, cho thấy khả năng nhân rộng của mô hình này.

III. KẾT LUẬN

Dự án đã xây dựng được quy trình ương cá bống bớp từ giai đoạn cá hương lên cá giống và nuôi thương phẩm cá bống bớp trong ao nước lợ phù hợp với điều kiện sinh thái thành phố Vinh, đã sản xuất được 93.350 con cá giống, tỷ lệ sống đạt 81,5%, thu được 10.226kg cá thương phẩm, đáp ứng được mục tiêu ban đầu đề ra.

Người dân nên áp dụng quy trình kỹ thuật ương cá bống bớp từ giai đoạn cá hương lên cá giống để sử dụng làm cá giống nuôi thương phẩm nhằm giảm chi phí sản xuất và đem lại lợi nhuận cao. Thời vụ nuôi nên tiến hành từ tháng 3 đến tháng 9 trong năm để giảm thiểu rủi ro do thời tiết./.

Mô Hình Nuôi Cá Dứa Trên Nền Ao Nuôi Tôm Nước Lợ

Chia sẻ nội dung:

Cá dứa (Pangasius kunyit) là loài cá nhiệt đới hiện nay cá dứa có khả năng nuôi thích nghi trong điều kiện nước ngọt và nước lợ được xem là đối tượng nuôi phù hợp để lựa chọn, luân canh, chuyển đổi khi môi trường ao nuôi tôm gặp khó khăn, bất lợi như hiện nay.

Thu hoạch cá dứa 

Với mục đích ban đầu giúp cải tạo, thay đổi môi trường ao nuôi tôm và đa dạng đối tượng nuôi thủy sản tại khu sản xuất của Trung tâm Tập huấn và Chuyển giao công nghệ nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Trung tâm Tập huấn), cuối năm 2016, đơn vị đã nuôi thử nghiệm cá dứa. Số lượng thả nuôi là 1.500 con trên diện tích 1.000 m2 ao nuôi, cỡ giống ± 3 cm/con với mật độ nuôi 1,5 con/m2. Mô hình sử dụng thức ăn công nghiệp (loại sử dụng cho cá basa, cá tra).

Sau thời gian nuôi 09 tháng, thu hoạch cá nuôi đạt trọng lượng từ 0,8 kg đến 1,2 kg/con. cho thu hoạch trên 1,2 tấn cá thương phẩm, năng suất trên 12 tấn/ha, bán với giá 130.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí cho lợi nhuận trên 60 triệu đồng/1000m2ao nuôi. Để thực hiện mô hình thành công, cần lưu ý một số khâu kỹ thuật như sau:

1. Chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi cần cải tạo, vét bùn, bón vôi, phơi đáy ao. Diện tích thích hợp 1.000 – 2.000 m2, ao quá lớn hoặc quá nhỏ đều không thuận lợi trong khâu chăm sóc, quản lý và thu hoạch cá thương phẩm; duy trì mức nước 1,4 m -1,6m. Sau khi cấp nước vào ao cần xử lý gây màu nước cho ao nuôi bằng chế phẩm sinh học, phân vi sinh… đến khi nước ao có màu xanh đọt chuối hoặc vàng nhạt thì tiến hành thả cá. Kiểm tra một số  yếu tố môi trường như: độ mặn 10 – 15‰, pH 6 – 8,…

2. Chọn thả cá giống

Lựa chọn cá dứa giống có nguồn gốc rõ ràng từ tỉnh An Giang hoặc Tiền Giang với kích cỡ 3 – 5 cm/con. Trong quá trình vận chuyển nên cẩn thận để tránh làm xây xát ảnh hưởng đến sức khỏe cá giống. Thuần hóa độ mặn trước khi thả giống. Nên thả giống vào lúc mát trời (sáng sớm hoặc chiều tối) với mật độ 1 – 2 con/m2.

3. Chăm sóc, quản lý ao nuôi

Cá dứa chịu đựng kém trong môi trường nước có hàm lượng ôxy hòa tan thấp, nên bố trí quạt nước để đảm bảo cung cấp ôxy cho cá, nhất là vào ban đêm. Sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi có độ đạm từ 18 – 25%. Cần hạn chế thức ăn dư thừa trong ao nuôi, ảnh hưởng đến chất lượng nước, thông thường lượng thức ăn bằng 5 – 7% trọng lượng thân. Cá dứa rất háu ăn nên khu vực cho ăn phải rộng và xa bờ để tránh tình trạng cá ăn không đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển. Bổ sung khoáng, vitamin vào thức ăn cho cá để tăng sức đề kháng.

4. Thu hoạch:

Khi nuôi được 8 – 9 tháng, cá đạt trọng lượng 0,8 – 1,5 kg/con thì thu hoạch. Thu cá bằng cách kéo lưới. Cá thu hoạch phải sơ chế và ướp lạnh ngay để đảm bảo chất lượng khi suất bán.

Trong thời gian triển khai mô hình, Trung tâm Tập huấn đã đón tiếp trên 90 lượt cán bộ khuyến nông của một số tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và trên 120 lượt bà con nông dân quanh vùng đến thăm quan, học tập, chuyển giao kỹ thuật. Từ đó giúp người dân trong khu vực có thêm một đối tượng nuôi thủy sản để lựa chọn, luân canh, chuyển đổi khi môi trường ao nuôi tôm gặp khó khăn, bất lợi như hiện nay.

Nuôi Cá Bống Bớp Thành Công

Cá bống bớp ( Boleopthalmus chinensis) thường thấy trên các bãi bùn và cát thuộc vùng triều. Cá đào hang có hai lỗ hoặc hơn dùng làm nơi trú ẩn và đẻ trứng. Lúc triều xuống chúng rời hang và lướt trên bùn hoặc trên đá để kiếm ăn, chúng ăn tảo ở đáy, chủ yếu là tảo silic.

Trước đây sản lượng cá bớp có trên thị trường là từ khai thác trong tự nhiên. Do có giá bán cao mà sản lượng trong tự nhiên lại có hạn nên gần đây nhiều nơi đã tìm cách nuôi loài cá này.

Nuôi cá bớp trong ao: – Lấy cá giống:

Mùa sinh sản của cá bớp là từ tháng tư đến tháng chín. Phần lớn cá giống thu được trong tự nhiên là vào các tháng 7 đến tháng 8. Có thể bắt chúng trong các vũng nước trên bùn hoặc cát ở các bờ dọc cửa sông khi nước triều xuống. Chiều dài thân cá 1,5 – 3,0cm, chúng có nhiều ở vùng nước lợ. Người ta dùng vợt bắt chúng trong các vũng nước đem về nuôi.

– Xử lý ao trước khi thả cá:

Vì cá bớp ăn tảo ở đáy vì vậy cần làm cho tảo phát triển tốt trước khi thả cá. Ðể làm được việc đó cần phơi đáy ao và bón phân. Ðối với ao mới đào bón 600 kg phân chồng mỗi ha, có thể cho thêm cám gạo, cho nước biển có độ mặn thấp, giữ độ sâu 15cm. Tảo silic và tảo lam sẽ phát triển ở đáy ao.

Ốc và ấu trùng giun ít tơ (Chironomid) là những loài ăn tảo ở đáy vì vậy phải trừ diệt bằng Bayluscide 0,3 ppm (phần triệu) và loài thứ hai bằng Abate 0,25 ppm, Sumithion 0,3 ppm hoặc Lebaycid 0,25 ppm.

– Thả giống:

Mật độ thả cá giống là 30.000 con/ha, tối đa là 50.000, cá bớp khi đã thả xuống ao thì khó mà bắt lại được, việc phân biệt kích cỡ thả cũng không cần thiết. Cá bớp không bao giờ ăn thịt lẫn nhau.

– Quản lý ao:

Nước ao cần được giữ sạch và nông để ánh nắng xuyên suốt tận đáy. Thời kỳ đầu nước ao giữ ở mức 15 cm (ở rãnh sâu 30cm). Lúc đó cá cỡ nhỏ và chỉ đào được hố cạn, vì vậy chưa cần xử lý ao sau 45 ngày khi cá đạt cỡ trên 5 cm, chúng đào những hố sâu hơn để trú ẩn và đáy nền của tảo bị hư hại. Lúc đó cần tháo cạn nước (trừ một ít nước lưu lại trong rãnh) và phơi nắng 3 – 6 ngày. Sau đó bón phân bắc, cám gạo v.v… Cho nước lợ vào ao, lớp tảo đáy lại được hình thành.

Trong quá trình xử lý cá bớp sẽ ẩn náu trong hố của chúng. Vì vậy, khi bón phân phải cẩn thận, tránh dồn cả khối phân bón nhiều lấp cả hố, làm cá chết. Pha trộn phân với nước biển đưa vào ao thì an toàn hơn và cũng đạt được mục đích phân bón. Sau đó mực nước lại giảm xuống 2 đến 7 cm.

Cá bớp sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ trên 28oC. Chúng ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ xuống dưới 14oC.

– Ðịch hại:

Ðịch hại phổ biến là cá (rô phi, cá rô … ) cần được diệt trừ khi phơi ao và lọc nước vào ao, chim (cần xua đuổi) và cua (cần có đăng chắn).

– Thu hoạch và thương mại:

Cá bớp nuôi từ 1 đến 2 năm để đạt được quy cỡ thương phẩm tuỳ thuộc điều kiện ao và cách quản lý. Cỡ thương phẩm nhỏ nhất là 24g, cỡ lớn nhất đạt 40g, tỷ lệ sống 60%. Kỹ thuật thu hoạch là dùng lờ trê chắn ở lối chính vào hố của cá để đơm cá. Cũng có thể dùng lưới vó chắn ở cửa lấy nước. Khi tháo nước vào ao, cá tập trung ngay trên vó, kéo lưới lên bắt cá.

Có thể vận chuyển cá bớp đường dài bằng cách chứa chúng với một ít nước ở nhiệt độ thích hợp.

– Sinh sản nhân tạo:

Ở Ðài Loan từ đầu những năm 1970 người ta bắt đầu thử nghiệm cho đẻ nhân tạo cá bớp. Cá bố mẹ có chiều dài 10-20cm. Cá được chứa trong bể nhựa và cho các ống chất dẻo làm chỗ ẩn náu cho cá. Cho nước vào bể đủ để ngập lỗ mũi cá.

Cá cái được tiêm từ 1/2 đến 1 não thuỷ thể cá chép và Synahorin với 5-10 đơn vị thỏ. Ngày thứ 3 thì tiêm đợt 2. Ngày thứ 4 cá bắt đầu đẻ. Mỗi con cái có thể thu hoạch được trên 10.000 trứng. Trứng có hình cầu và mầu vàng nhạt, đường kính 0,5-0,6mm. Trứng chìm và dính.

Lấy tinh dịch bằng cách mổ cá đực, lấy dịch hoàn rồi cắt thành mảnh nhỏ, trộn đều với trứng. Trứng đã được thụ tinh đem rửa bằng nước biển có độ mặn 14,9-18,5%o nhiều lần ở nhiệt độ 28oC phải mất 65 giờ mới nở.

Hiệu Quả Kinh Tế Từ Mô Hình Nuôi Cá Bông Lau Trong Ao Đất

Cá bông lau là loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, trước nay thường được khai thác chủ yếu trong tự nhiên. Mô hình nuôi cá bông lau trong ao đất bằng giống nhân tạo được triển khai ở xã An Thạnh Ba huyện Cù Lao Dung đã mở ra hướng mới để khai thác giá trị kinh tế của loài thuỷ sản này.

Tại xã An Thạnh Ba, huyện Cù Lao Dung, Dự án “Xây dựng mô hình nuôi cá bông lau trong ao đất”, do Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Sóc Trăng phối hợp với Trường Cao đẳng kinh tế – kỹ thuật Cần Thơ thực hiện đã triển khai thí điểm tại 3 hộ dân, thả nuôi theo mật độ 2 con/m2 và 1 con/m2. Ao nuôi của hộ anh Lâm Thành Lâm ở ấp An Quới, xã An Thạnh Ba, một trong 3 điểm triển khai của dự án đã thả nuôi 4.000 con giống trong ao nuôi, với diện tích 2.000 m2. Ao nuôi có trang bị quạt nước tạo dòng chảy và đảm bảo lượng oxy.

Nguồn con giống nhân tạo được cung cấp từ Trung tâm quốc gia giống thuỷ sản nước ngọt Nam bộ, huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang. Con giống được thả nuôi từ cuối tháng 1/2018, kích cỡ dài từ 8 -10cm, sau 11 tháng nuôi, kiểm tra thực tế tại ao, cá đã đạt trọng lượng phổ biến từ 1kg đến 1,2kg/con. Một số ít đạt trọng lượng 1,4 ký đến 1,5 kg/con. 

Tại buổi hội thảo đánh giá hiệu quả mô hình, các cán bộ dự án và bà con nông dân ở 2 xã An Thạnh Ba và An Thạnh Nam huyện Cù Lao Dung, đã trao đổi làm rõ tính hiệu quả của mô hình, chia sẻ kỹ thuật chăm sóc khi nuôi cá bông lau trong ao đất. Theo đó, kết quả nổi bật là cá nuôi có tỉ lệ hao hụt ít, dễ chăm sóc, tăng trọng nhanh, giá tiêu thụ trên thị trường đảm bảo hộ nuôi có lãi. Anh Lâm Thành Lâm, ấp An Quới, xã An Thạnh Ba, huyện Cù Lao Dung, cho biết: “Qua kết quả nuôi, tôi thấy loài này dễ chăm sóc, chí phí thức ăn và chi phí khác cho mỗi kg khoảng 60.000đ, giá bán trên thị trường giao động từ 80.000 đến 120.000 thì mỗi kg thu lời từ 20.000 đến 30.000 đồng/kg”.

Ao nuôi cá được trang bị quạt nước tạo dòng chảy và đảm bảo lượng oxy.

Điểm đáng chú ý là trong 7 tháng đầu thả nuôi, nước trong ao có độ mặn từ 2 đến 8 phần ngàn. Đây là điểm khác biệt về môi trường tự nhiên ở An Thanh Ba so với các vùng sinh thái khác, rất phù hợp với đặc tính sinh trưởng của cá bông lau. Tiến sĩ Nguyễn Quang Trung, Giảng viên Trường cao đẳng kinh tế-kỹ thuật Cần Thơ, Chủ nhiệm dự án cho biết: “Chúng tôi cũng có triển khai mô hình tại huyện Kế Sách toàn nước ngọt thì thấy, tại An Thạnh ba, 2/3 thời gian nuôi là nước lợ thì cá bông lau sinh trưởng tốt, tăng trọng nhanh”.

So với các giống loài thủy sản khác đã từng nuôi ở xã An Thạnh Ba, cá bông lau nuôi trong ao đất được các hộ tham gia mô hình thí điểm đánh giá có triển vọng về hiệu quả kinh tế. Ông Trần Thanh Nhã, ấp An Quới, xã An Thạnh Ba, huyện Cù Lao Dung, hộ tham gia mô hình, nói: “Cá này nuôi 11 tháng thì vô kg, chi phí nuôi khoảng 70.000đ, giá thị trường tiêu thụ khoảng 100 ngàn thì thu lãi mỗi ký 30 ngàn, so cá tra, cá lóc thì nó khá hơn”.

Mô hình nuôi cá bông lau trong ao đất giúp đa dạng giống loài trong nuôi trồng thủy sản của huyện Cù Lao Dung.

Năm 2018, nông dân Cù Lao Dung đã tăng diện tích nuôi thủy sản lên 3.500 ha; trong đó nuôi tôm 2.750 ha, nuôi các loài thủy sản khác 750 ha. Việc đa dạng giống loài thủy sản phù hợp điều kiện sinh thái, cho hiệu quả kinh tế đang được huyện rất quan tâm. Ông Đồ Văn Thừa, Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cù Lao Dung, cho biết: “Việc thí điểm mô hình nuôi cá bông lau trong ao đất, giúp huyện có thêm lựa chọn về giống loài thủy sản cho nông dân phát triển sản xuất, phù hợp sinh thái vùng”.

Theo bà con nông dân, do là loại cá ngon nên thị trường tiêu thụ cá bông lau rất dễ dàng. Tuy nhiên, sức tiêu thụ chưa lớn, thương lái thu mua nhỏ lẻ, giá bán chưa ổn định, khả năng cho lãi nhưng chưa cao chính là những yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến mô hình nuôi cá bông lau trong ao đất ở Cù Lao Dung.

Bạn đang xem bài viết Mô Hình Nuôi Cá Bống Bớp Trong Ao Nước Lợ Tại Thành Phố Vinh trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!