Xem Nhiều 2/2023 #️ Giá Thức Ăn Cá Tra # Top 3 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 2/2023 # Giá Thức Ăn Cá Tra # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giá Thức Ăn Cá Tra mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đăng giá Thủy Sản

Sau khi nhận được thông tin trong vòng 12 giờ xác nhận, giá của bạn sẽ được đăng lên.

Nuôi Cá Tra Bằng Thức Ăn Tự Chế

Nuôi cá tra bằng thức ăn tự chế

Hiện nay, người nuôi cá tra với mật độ cao thường cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp, cá nhanh lớn nhưng giá thành cao do chi phí thức ăn rất tốn. Vì vậy, nuôi cá tra bằng thức ăn tự chế là cách hữu hiệu để giảm giá thành.

Cá tra ăn tạp, rất nhanh lớn và rất dễ nuôi, trong điều kiện nuôi thâm canh chỉ 4-5 tháng là cá đạt trong lượng 1,0-1,2 kg. Cá nuôi lâu năm có thể đạt trọng lượng 10-12 kg/con nhưng vì không kinh tế nên người ta thường bán khi cá đạt trọng lượng 1,0-1,2 kg/con. Cá tra ăn nhiều loại thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật. Mùa vụ sinh sản của cá tra trong tự nhiên vào tháng 5-6 âm lịch hằng năm. Cá đẻ một lần trong năm, bãi đẻ thường trên phần sông MêKông thuộc địa phận Campuchia. Trước đây khi mà con cá tra chưa được sinh sản bằng phương pháp nhân tạo thì nguồn giống cá tra giống chỉ được bắt ở dưới sông, khu vực giáp ranh với nước bạn.Chuẩn bị ao nuôi: Ao nuôi cá cần gần nguồn nước ngọt để khi cần lấy nước và rút nước được dễ dàng. Ao có hình chữ nhật, diện tích ao nuôi có thể biến động từ vài công (mỗi công = 1.000 m 2) đến vài ha tùy theo khả năng nuôi và diện tích sẵn có, nhưng thích hợp nhất là từ 1.000-1500 m 2, chiều sâu 1,5-2,5 m. Bờ ao cần cao hơn đỉnh lũ cao nhất hằng năm 0,5 m nhằm tránh ngập lụt trong mùa lũ. Xung quanh ao đắp thêm bờ đất nhỏ cao thêm 20 cm để ngăn nước mưa tràn xuống làm đục nước ao ảnh hưởng đến hoạt động của cá. Mặt bờ cần trồng rau muống để ngăn sạt lở và làm thức ăn xanh cho cá.Cải tạo ao: Đối với ao đã có sẵn thì cần cải tạo lại ao trước khi nuôi. Cần rút cạn nước, vét bùn ở đáy ao, bón lót vôi khử trùng với lượng 10-15 kg/100 m 2 ao, phơi đáy ao 2-3 ngày, kết hợp dọn sạch cỏ bờ ao, lấp các lỗ mọi rò rỉ và ống bọng (cứ khoảng 200-300 m 2 ao cần một ống bọng lấy nước, đường kính 25-30 cm). Trên bờ ao cũng cần bón vôi với lượng tương tự như dưới ao để ngăn phèn rửa trôi xuống ao. Đối với ao mới đào thì cần phải tiến hành bón vôi theo bờ ao theo từng lớp đất 30-40 kg vôi bột cho 100 m 3 đất và bón đáy ao 20-30 kg/100 m 2. Khi cho nước vào ao cần xác định thường xuyên độ pH, bơm nước cũ bỏ đi và thay nước mới vào nếu thấy pH nước còn quá acid (tức nước bị nhiễm phèn, rất độc cho cá) cho đến khi nào thấy pH bằng 6 -7 mới thả cá con vào ao.Thả cá: Cá giống cần khỏe mạnh và có kích cỡ đều nhau để chúng cùng lớn sẽ tránh được trường hợp cá hại lẫn nhau, mật độ thả 5-7 con/m 2 ao. Thời vụ thả cá tốt nhất là từ tháng 7-9 thì cỡ cá giống từ 10-12 con/kg, nếu thả vào tháng 3-5 thì cá con cần lớn hơn (4-6 con/kg). Cá tra có thể nuôi ghép với các loài cá khác như cá hường, cá mè vinh, cá trê, tỷ lệ ghép là 5-10% tổng số đàn. Kinh nghiệm cho thấy là nuôi cá tra ghép với các loài cá khác sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn do tận dụng được nguồn thức ăn. Khi thả cá động tác cần nhẹ nhàng tránh làm cá bị thương tổn.Cho cá ăn: Thời kỳ cá còn nhỏ, có kích cỡ từ 10-20 cm cá phát triển mạnh về chiều dài, chưa tích lũy mỡ nên cần cho ăn thức ăn chứa nhiều đạm (30%). Các loại thức ăn cho thời kỳ này là: cá vụn, đầu tôm, các sản phẩm loại của các nhà máy thủy hải sản xuất khẩu, cám, rau muống, bắp, khoai… Lượng thức ăn hằng ngày bằng 5-8% trọng lượng cá. Cần cho cá ăn bằng sàn ăn để biết lượng ăn của cá mà điều chỉnh. Đến thời kỳ cá lớn hơn, từ 25 cm trở đi, cá đã trở sang giai đoạn tích lũy mỡ và tăng trọng nhanh, hàm lượng đạm trong thức ăn thời kỳ này giảm xuống 15-20%. Cho cá ăn một lần/ngày và cần cho cá ăn đến no không ăn nữa thì thôi, thường là lượng thức ăn bằng 4-6% trọng lượng cá. Thành phần thức ăn của cá như sau; 20% rau xanh, 50% cám, 30% cá, ốc, hến, đầu cá… xay nhỏ (nguồn thức ăn động vật có thể trộn với muối để dự trữ cho cá ăn dần). Thức ăn được nấu chín, nhồi dẻo, cho ăn ở dạng viên. Hệ số thức ăn tự chế đối với cá tra trung bình từ 3-3,5. Do đó tùy theo tình hình giá cả thức ăn trên thị trường mà người nuôi có thể tự điều chỉnh cơ cấu thành phần thức ăn sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.Chăm sóc: Kiểm tra nước hằng ngày, nước bẩn sẽ làm cá kém ăn và chậm lớn, thông thường mỗi tuần cần thêm nước vào ao hoặc thay nước mới từ 20-30% lượng nước trong ao và cứ sau từ 1-2 tháng thì người ta nâng mực nước trong ao lên 0,5 m.Phòng bệnh: Cần chú ý những trận mưa đầu mùa, tốt nhất là không nên cho nước mưa này chảy qua bờ xuống ao nhất là với những ao mới đào sẽ làm cho ao bị nhiễm phèn. Pha loãng vôi bột trong nước và lấy nước vôi trong té đều lên mặt ao. Khi thay nước mới vào thì khử trùng nước ao. Phòng bệnh tiêu hóa cho cá bằng Sulphamid trộn với thức ăn: 10g dùng cho 1 tấn cá.

Nguồn: nongnghiep.vn

Thức Ăn Cho Cá Tra Giống – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Nhu cầu dinh dưỡng của cá

Sau khi hết noãn hoàng, cá bột bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài. Cá thích ăn mồi tươi sống, có mùi tanh, như cá bột, trứng nước, ấu trùng Artemia. Thậm chí, chúng ăn lẫn nhau khi không kịp thời cung cấp thức ăn, do đó, phải tạo được một lượng thức ăn tự nhiên sẵn có và đầy đủ trong ao ương trước khi thả cá bột, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu ăn của cá.

Cung cấp đầy đủ thức ăn để đàn cá tra phát triển khỏe mạnh – Ảnh: Phan Thanh Cường

Trong quá trình ương nuôi thành cá tra giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa miệng và các thức ăn nhân tạo. Sau khi xuất cá giống, có thể sử dụng các loại thức ăn công nghiệp thích hợp với kích cỡ của cá để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết.

Sử dụng thức ăn

Sau khi chuyển cá từ bể ấp ra ao ương cần lưu ý lượng cho ăn theo khả năng bắt mồi của cá và tình hình thời tiết, chất lượng nước ao. Đối với cá giống cho ăn thức ăn dạng mảnh phù hợp với từng kích cỡ con giống.

Cá giống từ ngày 18 trở đi (kích cỡ cá từ 1 – 5g), sử dụng thức ăn dạng mảnh 01 loại MINI 35 6316, kích cỡ 1 – 1,5 mm/viên, tăng số lần cho ăn trong ngày (3 lần/ngày) với lượng thức ăn từ 7 – 25% so với trọng lượng cơ thể cá. Loại thức ăn này có lượng đạm đạt 35%.

Trong quá trình cho ăn, cần kết hợp cải tạo ao, đảm bảo môi trường để nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn.

Sản phẩm Max Benthos của Công ty TNHH Tiệp Phát

Sản phẩm thức ăn dạng mảnh 01 loại MINI 40 6306, MINI 35 6316 của Công ty Cổ phần GreenFeed Việt Nam.

Giá Thức Ăn Thủy Sản Lại Tăng

“1 tiền gà, 3 tiền thóc”

Có lẽ chưa có năm nào, diện tích nuôi tôm và cá tra ở ĐBSCL lại bị bỏ trống nhiều như năm nay. Thực tế đến thời hay điểm này, người nuôi cá tra, tôm sú đều ở tình trạng “kiệt sức”, khó gượng dậy sau vụ nuôi thua lỗ năm 2008. Nhiều người còn sức cũng chỉ dám thả nuôi cầm chừng vì lo sợ những rủi ro dịch bệnh, giá cả thị trường bấp bênh… Đặc biệt gần đây, liên tiếp có những thông tin bất lợi xảy ra đối với sản phẩm cá tra Việt Nam tại một số thị trường càng khiến người nuôi ngao ngán.

Thời điểm trước, Chính phủ đã đưa nguyên liệu sản xuất thức ăn thuỷ sản nhập khẩu vào nhóm đối tượng bình ổn giá. Tuy nhiên, trong vài ngày qua, giá thức ăn chăn nuôi của Công ty Cagill và Proconco đã lại tăng mạnh. Thức ăn thủy sản cũng liên tục tăng giá kể từ đầu tháng với mức tăng tổng cộng 700 – 800 đồng/kg.

Hiện nay, giá thức ăn cho cá tra loại 22% đạm là 6.800 đồng/kg, loại 26% đạm là 7.200 – 7.800 đồng/kg tuỳ từng công ty. Trong khi đó từ đầu tháng 5 đến nay, nhiều hộ nuôi cá chỉ bán được với giá 15.800 – 16.000 đồng/kg cá nguyên liệu. Trong khi giá các loại thức ăn thủy sản tăng thêm 200 – 500 đồng/kg so với tháng trước. Với mức giá này, những người nuôi cá đạt năng suất cao, chất lượng tốt mới có thể vượt qua ngưỡng thua lỗ.

Gần đây, tuy xuất khẩu cá tra có chiều hướng phục hồi nhưng tình hình thả nuôi trong dân vẫn trầm lắng. Đến thời điểm này, diện tích thả nuôi cá tra mới chỉ đạt khoảng 1.000 ha mặt nước, thấp hơn 30% diện tích so với cùng kỳ năm trước. Theo phản ánh của các hộ cá tra: thời gian qua, các doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu đã tiếp cận được nguồn vốn vay hỗ trợ lãi suất với mức độ khác nhau nhưng người nuôi cá lại rất khó tiếp cận với nguồn vốn này.

Do những khó khăn về thị trường, nhiều hộ nuôi còn nợ ngân hàng nên các ngân hàng thương mại cũng chưa triển khai mạnh việc tiếp tục cho vay để khôi phục diện tích ao nuôi. Ông Út Che – một hộ nuôi tôm sú có thâm niên tại ấp Vĩnh Thanh, Vĩnh Hậu, Hoà Bình, Bạc Liêu cho biết: Vụ này tôm đã thả được hơn một tháng nhưng gia đình ông không đủ tiền mua thức ăn vì không có vốn hơn nữa giá thức ăn lại quá cao. Hơn 0,5 ha tôm nhưng chi phí thức ăn có 200.00 đồng/ngày, bằng phân nửa mức cho ăn trước đây.

Theo tính toán của Cục nuôi trồng thuỷ sản: giá thành nuôi cá của vụ đầu năm 2009 là 14.500 đồng/kg, trong đó chi phí thức ăn chiếm tới 75,9% giá thành. Đối với tôm sú, giá thành vào mức 60.000 đồng/kg và chi phí thức ăn đã chiếm 41,7%. Một kg tôm thẻ chân trắng giá thành vào khoảng 30.000 đồng nhưng chi phí thức ăn lên đến 66,75%… Như vậy chi phí thức ăn trong nuôi trồng thuỷ sản chiếm một phần rất lớn trong tổng mức vốn đầu tư của người nuôi. Việc tăng hay giảm giá thành thức ăn thủy sản sẽ có tác động trực tiếp đến kết quả từng vụ nuôi.

Bao giờ chủ động nguồn thức ăn?

Đây là câu hỏi đồng thời cũng chính là sự mong mỏi của người nuôi thuỷ sản Việt Nam. Một trong những yếu tố giúp ngành thủy sản nước ta phát triển bền vững, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn… thì việc chủ động được nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản là yếu tố cần thiết.

Theo các chuyên gia về nông nghiệp, với các nguyên liệu bắp, đậu tương, mì lát, cám gạo, nguyên liệu bột cá… nếu khâu sản xuất, trồng trọt được tổ chức, quy hoạch tốt thì có thể sử dụng dư thừa cho chế biến thức ăn thuỷ sản. Thế nhưng, đến thời điểm này, những loại nguyên liệu nói trên, vốn chiếm tới 60-70% trong công thức sản xuất thức ăn vẫn phải lệ thuộc phần lớn vào nhập khẩu. Đây là nguyên nhân chính được doanh nghiệp cung ứng thức ăn nêu ra để tăng giá sản phẩm, hoặc chậm trễ giảm giá khi nguồn nguyên liệu trên thế giới giảm giá mạnh.

Thực tế, Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nhiều thế mạnh trong việc phát triển các loại cây nông sản như ngô, sắn, đậu tương – vốn là những nguyên liệu chính trong chế biến thức ăn chăn nuôi, thức ăn thuỷ sản. Tuy nhiên, theo số liệu của Cục trồng trọt (Bộ NN&PTNT) hiện cả nước mới chỉ có khoảng 300.000 ha trồng đậu tương nên mỗi năm mới sản xuất ra khoảng hơn 300.000 tấn đậu tương, chỉ đủ dùng cho nhu cầu làm đậu phụ và đồ uống nên khô dầu đậu tương dùng cho chế biến thức ăn chăn nuôi phải nhập 100% ở nước ngoài.

Hiện đang tồn tại một nghịch lý là, trong khi các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thì một số loại nông sản sản xuất trong nước phải bán với giá quá rẻ. Lý do là vì chất lượng nguyên liệu trong nước không bảo đảm do quá trình thu hoạch và bảo quản của nông dân chưa tốt. Vì vậy, trong thời gian tới, để có thể chủ động nguồn nguyên liệu cho chế biến thức ăn thuỷ sản, ngoài việc các doanh nghiệp tự đầu tư dây chuyền sản xuất, thì nhà nước cũng cần đầu tư nguồn vốn cho nông dân để tăng cường hệ thống kho bãi, phơi, sấy, bảo quản để bảo đảm chất lượng nông sản, cung cấp nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi. Việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong đó có thức ăn thủy sản cũng cần được tiến hành trên cơ sở tính toán nhu cầu thực tế… Có như vậy mới góp phần bình ổn giá thành thức ăn thủy sản, giúp người nuôi bớt cảnh phập phồng theo giá thức ăn./.

Bạn đang xem bài viết Giá Thức Ăn Cá Tra trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!