Xem Nhiều 11/2022 #️ Ðâu Rồi Cá Mát Sông Giăng ? – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 # Top 12 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 11/2022 # Ðâu Rồi Cá Mát Sông Giăng ? – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Ðâu Rồi Cá Mát Sông Giăng ? – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhớ cơm Mường Quạ, nhớ cá sông Giăng

Khách du lịch đi thuyền máy vào thượng nguồn sông Giăng từ bến Pha Lài – Ảnh: Minh Thư

Khi ngọn Pha Lài “nuốt” ông mặt trời, cha con ông Lô Văn Uốn, bản Thái Sơn, một trong những người nổi danh bắt cá giỏi ở Mường Quạ từ bờ sông Giăng trở về. Trong cà típ (giỏ) đeo lủng lẳng bên hông chỉ lèo tèo vài con cá nhỏ  bằng ngón tay. Ông than thở: “Từ sáng sớm hôm qua đi từ vực Văng Môn đến tận khe Lẻ tới giờ mà chỉ được mấy con cá nhỏ ni”. Trên căn nhà sàn, mế của ông là Vi Thị Thiếu đang ngồi bên bếp lửa bập bùng chờ con cháu mang thức ăn về. Thấy ông Uốn đổ ra chậu mấy con cá, miệng móm mém nhai trầu, mế buồn rầu kể: “Ngày xưa, khi anh cả Uốn còn nhỏ, tui ở nhà bắc nồi lên bếp, ông nhà tui vác chài ra ngoài bến quăng một mẻ kéo lên xách về luôn, toàn cá Mát. Nếu hai người đi thuyền độc mộc vào tận thượng nguồn trong khe Bê, khe Tàng… chỉ cần thả một cheo, sáng ra thu lưới cá Mát mắc kín phải đến hàng tạ cá. Mế Thiếu giải nghĩa cá Mát, tiếng Thái gọi là pa khinh, pa lạt meo (cá lệch – chình), pa va (cá ních). Người dân tộc  Thái thường chế biến cá thành những món ăn truyền thống như: Pa pính phé, Pa pính tộp, pa pính giảo, hò mọc pa… Mế Vi Thị Diện, ở nhà bên sang chơi cũng thêm chuyện: “Trước kia, đi làm đồng về, đàn bà ở nhà bắc nồi lên bếp, đàn ông vác chài ra sông Giăng, một lúc trở về đã có cả một oi cá đầy ăn với khầu him (một loại nếp). Mế nói: Ngày trước chủ yếu là quăng chài, thả lưới, thả đó chứ không có kích điện, nổ mìn như bây giờ. Ở vùng Mường Quạ đánh cá giỏi có ông Lang Văn Tí ở bản Kẻ Tại, ông La Thụ, ông Lô Văn Tuyên ở bản Cò Bà, ông La Bình, ông La Dương người bản Pom… Nay thì cá hiếm lắm, muốn ăn cá Mát, mấy anh con trai của tui phải đi mãi vào tận khe sâu vài hôm mới có vài gắp cá Mát mang về. Ông Lô Văn Uốn cho biết, sông Giăng là nơi sinh tụ của loài cá Mát, mình cá có từ ba đến sáu chấm đen, còn vảy cá thì mầu hồng. Cá Mát nhỏ con chỉ bằng hai ba ngón tay người lớn, con to nhất chỉ nặng từ 0,5 kg đến 0,8 kg. Cá Mát sống từng đàn ở các khe đá và nơi thác nước chảy xiết, chúng thường bơi kiếm ăn vào ban đêm. Từ chập tối trở đi cá bắt đầu theo nhau đi tìm kiếm các loại côn trùng trên mặt nước, các loại rong tảo bám vào đá nơi thác chảy. Bắt đầu từ tháng 8 Âm lịch là mùa cá Mát, cữ này khi qua các thác đầu nguồn sông Giăng, cá Mát nghiêng mình chao lượn trắng bạc. Cá Mát sông Giăng vừa lành, vừa bổ, thịt lại thơm ngon, mỡ béo ít xương. Trong ký ức tuổi thơ của mế Diện, mế Thiếu, ông Uốn, sông Giăng có rất nhiều loài cá, người lội qua sông phải rẽ cá mà đi, người xuống sông tắm từng đàn cá đến vây quanh đùa  giỡn…

Ông La Văn Yêu, già bản người dân tộc Ðan Lai ở bản Cò Phạt kể, người Ðan Lai xưa thường dùng cá Mát ăn thay cơm. Ðến bữa, mỗi người lùi một củ sắn vào bếp rồi vác chài ra sông tung một mẻ chài trên thác đã có đủ một nồi canh cá Mát và mỗi người ngồi nướng một con cá Mát ăn tươi bên bếp lửa. Lễ Tết đến hay cưới hỏi của người Ðan Lai phải có cá Mát cúng tổ tiên với bài cúng: “Năm hết Tết đến/Chúng con chỉ có/Một trành cá Mát/Một bát mật ong/Một chén rượu lạt/Dâng lên tổ tiên/Phù hộ chúng con/Ăn nên làm ra/Con suối lắm cá…”.

Và trong ký ức của mỗi người dân Mường Quạ xưa là cánh đồng màu mỡ, trù phú cho lúa trĩu bông. Nhất là loại lúa nếp Khầu Củ Pháng (lúa nếp vàng), xôi hong lên như mỡ gà trộn vào vàng óng ánh, mùi thơm ngào ngạt. Nếp xôi Khầu Cú Páng ăn kèm với cá Mát sông Giăng, ăn một lần thì nhớ mãi không quên. Vậy mới có câu thành ngữ: “Cơm Mường Quạ, cá sông Giăng”. Nhưng chuyện ấy bây giờ chỉ còn trong lời kể của người già.

Ðang dần bị tiệt chủng

Từ bến Pha Lài nơi có đập thủy lợi ngăn sông Giăng đưa nước lên tưới cho cánh đồng Mường Quạ, chúng tôi theo cha con anh La Văn Thái, bản Thái Sơn ngồi thuyền máy ngược sông Giăng đi đánh cá. Anh Thái chỉ núi Pha Lài lốm đốm giải thích: “Pha” có nghĩa là núi đá, “Lài” nghĩa là hoa văn, Pha Lài có nghĩa là núi đá có hoa văn. Từ khi có đập Pha Lài, con sông Giăng được thuần hóa, đường vào bản người Ðan Lai là Cò Phạt, bản Búng cũng bớt ghềnh thác hơn.

Anh Thái cho biết,  trước đây ông, cha mình đi đánh cá được nhiều muốn để lâu chỉ cách duy nhất là nướng khô, nay dân đi đánh cá chuyên nghiệp có đá lạnh bỏ trong thùng xốp để bảo quản. Cùng chúng tôi đi  sâu trong vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát đánh cá, thấy một vài tốp khác. Một ngày ròng rã tung nhiều mẻ chài, vây nhiều mẻ lưới nhưng cha con anh Thái chỉ bắt được vài con cá Mát. Anh Thái nói: Bây giờ họ toàn dùng kích điện, đánh mìn, mới hơn có người còn đầu tư cả đồ lặn, dùng súng bắn  để bắt những con cá lăng, cá lệch, ba ba… nằm sâu trong hang đá. Trời tối mịt, trở về bến Pha Lài, gặp ông Lô Văn Péng, người bản Xiềng đang nghỉ ngơi sau chuyến đi vào tận trong khe Búng trở ra. Trong bộ đồ cộc đang rét run vì lạnh, rít điếu thuốc lào xong, ông xuống nốc bưng thùng xốp đá đựng cá đổ ra sàn vào cân cho chủ quán đóng bằng bè nằm ngay ở bến đập Pha Lài. Tuy nhiên khi phân ra loại cá, chỉ có mấy lạng cá Mát, ông chặc lưỡi nói: “Tui đi từ hôm kia, dầm mưa dãi nắng, chịu đói rét mà chỉ được có chừng ni cá Mát. Dạo này cá Mát không còn nhiều, một số như cá chạch, cá bọp, cá lăng, còn cá ních, cá rầm…  thì đã tiệt chủng. Từ nhỏ tui đã theo cha, ông đi đánh cá, chỉ cần vây một đường lưới ngắn đã được một oi cá đầy. Vậy mà bây giờ không chỉ riêng cá Mát mà nhiều loài cá ngon của sông Giăng cứ ngày một hiếm. Trước đây đi thả lưới, quăng chài, người giỏi một đêm được vài yến cá, nay chỉ được một đến hai cân đã là nhiều lắm. Thấy chủ quán bè trả cho ông Péng một cân cá Mát giá 200 nghìn. Ông “Dũng sẹo”, chủ quán cho biết: Cá Mát chừ là đặc sản để phục vụ “thượng đế” là các du khách đến tham quan, du lịch và chuyển về nhập cho các nhà hàng ngoài thị trấn, về xuôi, thành đặc sản cho nên giá cả ngày một đắt mà lại quá hiếm…

Anh Vi Văn K, người bản Xiềng, một thợ đánh bắt cá chuyên nghiệp cho biết, người đi đánh bắt cá chủ yếu là người địa phương đi theo tổ, mỗi tổ từ một đến ba người, hình thức đánh bắt cũng đa dạng từ đánh bắt truyền thống như thả lưới, chài. Hiện nay, dân chuyên nghiệp chủ yếu đánh bắt cá bằng các dụng cụ hiện đại bị cấm như kích điện, nổ mìn. Theo anh K, chỉ với một bộ kích loại 24 sò, một bình điện loại 75 am-pe cũng đủ để những chú cá Lệch nặng tới 0,9 – 10 cân nằm sâu dưới đáy vực sông cũng “mò” theo dòng kích điện mà trồi lên. Quăng mìn chỉ trong mấy giây, đàn cá to nhỏ tấm mén đều nổi lềnh bềnh, người đánh bắt chỉ việc vớt cá lên thuyền.

Chúng tôi hỏi:

– Ði đánh bắt cá có ai kiểm tra, kiểm soát hay ngăn cấm gì không?

Anh không chút đắn đo, trả lời:

– Có ai hỏi, kiểm tra chi mô, cá dưới sông ai muốn vào bắt thì bắt, mà núi rừng rộng lớn thế ai kiểm tra nổi.

Nói về thực trạng nguồn cá sông Giăng, nhất là loài cá Mát đang dần bị cạn kiệt có nguy cơ tiệt chủng, Trung tá Nguyễn Trọng Vinh Ðồn trưởng Ðồn Biên phòng Môn Sơn cho biết: Thời gian qua, lực lượng biên phòng đều triển khai công tác xây dựng kế hoạch tăng cường quản lý giám sát, xử phạt những trường hợp sử dụng kích điện đánh bắt cá trái phép trên sông, suối. Hằng tháng, đồn phân công “cắm” mỗi bản một tổ, mỗi tổ sáu người tuần tra; phân công tổ công tác nghiệp vụ kết hợp chính quyền địa phương tuyên truyền về tác hại của việc đánh bắt quá mức dẫn đến tiệt chủng những loài cá quý hiếm trên sông Giăng. Ðồn trưởng Nguyễn Trọng Vinh cho biết thêm: Tuy nhiên hiện vẫn còn một số đối tượng cố ý vi phạm. Năm 2012, đồn phát hiện xử lý bảy vụ, 10 đối tượng; tịch thu sáu gam thuốc nổ, một kíp thuốc nổ và dây cháy chậm; xử phạt hơn năm triệu đồng, tịch thu tám bộ kích điện nhãn hiệu Pinaco. Bắt và xử lý một vụ, hai đối tượng mua bán, sử dụng vật liệu nổ. Trong quý I-2013, đồn bắt được hai vụ ở bản Cò Phạt, xử phạt hành chính một vụ, phạt tiền một đối tượng ở bản Yên do sử dụng kích điện đánh bắt cá.

Thực tế những ngày có mặt tại xã Môn Sơn, chúng tôi thấy, việc người dân ở vùng đệm vẫn lén lút hoặc ngang nhiên vượt qua sự kiểm soát của các nhà chức trách vào thượng nguồn sông Giăng thuộc vùng bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Pù Mát để đánh bắt thủy sản bằng các loại phương tiện, trong đó có các loại phương tiện bị cấm như mìn, kích điện…, dẫn đến hậu quả là một số loài thủy sản quý hiếm gần như tiệt chủng. Không riêng các loài cá, các loài động vật hoang dã quý hiếm khác nằm trong Sách đỏ ở vùng thượng nguồn sông Giăng, mà theo phản ánh ở các vùng khác như khe Choăng, khe Thơi… cũng trong tình trạng tương tự, do bị săn bắt ráo riết đến mức gần như cạn kiệt. Ðã đến lúc các cơ quan chức năng cần có biện pháp ngăn chặn, làm rõ trách nhiệm của những người làm công tác quản lý, bảo vệ nguồn tài sản quý hiếm của quốc gia, khu vực.

Ðánh cá ở thượng nguồn sông Giăng.

Vườn quốc gia Pù Mát nằm trong khu vực sinh thái Bắc Trường Sơn. Ðây là một khu vực bảo tồn tính đa dạng sinh học đại diện cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới điển hình lớn nhất khu vực Bắc Trường Sơn, là nơi đã xác định có sự phân bố của nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm, trong đó phải kể đến các loài mới được khoa học phát hiện trong những năm 90 của thế kỷ 20…

Theo kết quả điều tra của Viện Ðiều tra quy hoạch rừng năm 1992 thì Vườn quốc gia Pù Mát có 1.297 loài thực vật bậc cao, 64 loài thú, 137 loài chim, 25 loài bò sát, 15 loài lưỡng cư. Riêng về cá: Có 83 loài thuộc 56 chi, 19 họ. Năm loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam (RBD 2007) với công thức như sau:

5 loài RBD = 4VU + 1EN. Bao gồm: bốn loài ở mức VU (sẽ nguy cấp), một loài ở mức EN (nguy cấp), tiêu biểu có các loài: cá chình, cá lăng, cá mát, cá lấu.

Kg – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Hiện giá cá điêu hồng được thương lái tới tận bè thu mua với giá 41.000 – 42.000 đ/kg tùy theo loại cá và hình thức bắt cá. Với giá cá thời điểm này, người nuôi cá điêu hồng lồng bè vẫn còn lãi khoảng 11.000 – 12.000 đ/kg.

Ông Lê Minh Sang, nông dân nuôi cá bè ở xã Thới Sơn, TP Mỹ Tho (Tiền Giang) cho biết, mấy ngày nay các thương lái tới tận bè của nông dân thu mua cá điều hồng với giá 41.000 đ/kg nếu bắt cá bằng ghe đục. Đối với những thương lái bắt cá điêu hồng oxy (cá giữ trong bao ni lông chứa nước có bơm oxy), cá điêu hồng được thu mua với giá 41.500 – 42.000 đ/kg. Tính ra giá cá điêu hồng các loại đã giảm khoảng 2.000 đ/kg so với tuần trước.

Mấy ngày qua, nguồn cung cá điêu hồng tại bè tăng trở lại nên giá cá giảm nhẹ

Theo nhiều nông dân nuôi cá điêu hồng ở xã Thới Sơn, hiện giá thành sản xuất cá điêu hồng trên bè gồm con giống, thức ăn, thuốc thú y, nhân công… trong vòng 6 tháng nuôi cá bình quân khoảng 30.000 đ/kg. Năng suất bình quân mỗi bè nuôi cá điêu hồng thể tích 100 m3 ở địa phương này khoảng 5 tấn cá, nên sau khi trừ mọi chi phí sản xuất nông dân còn lãi từ 55 – 60 triệu đ/bè (tương đương 11.000 – 12.000 đ/kg cá). Thông thường mỗi nông dân nuôi cá bè ở Tiền Giang có từ 4 – 5 bè, thậm chí có tới cả trăm bè, vì vậy nếu chủ bè nào có cá bán trong thời gian gần đây sẽ có lãi hàng trăm triệu đồng.

Ông Nguyễn Văn Thành, một thương lái chuyên thu mua cá điêu hồng cung cấp cho thị trường Tp Hồ Chí Minh cho biết, nguyên nhân khiến giá cá điêu hồng giảm nhẹ trong mấy ngày qua là do nguồn cung cá điêu hồng nuôi bè ở Tiền Giang cũng như ở các tỉnh lân cận có dấu hiệu tăng trở lại. Nhiều chủ bè có cá tới lứa thu hoạch đồng loạt nên giá cá giảm chút đỉnh. Tuy nhiên, giá cá điêu hồng trong thời gian tới sẽ vẫn nằm ở mức cao trên dưới 40.000 đ/kg, do thị trường tiêu thụ cá điêu hồng hiện rất tốt và dịp Quốc Khánh 2/9 cũng đang đến gần.

Mặc dù, giá cá điêu hồng có xu hướng giảm nhưng nhiều nông dân nuôi cá điêu hồng trên bè có kinh nhiệm cũng nhận định giá khó có thể giảm xuống thấp hơn 40.000 đ/kg.

Ông Phan Thế Nhân, nông dân có 5 bè nuôi cá điêu hồng ở xã Thới Sơn, TP Mỹ Tho (Tiền Giang) cho biết, thời gian gần đây giá cá điêu hồng nằm ở mức cao, thậm chí giá cá lúc đỉnh điểm lên tới 44.000 đ/kg, nhưng người nuôi bè chưa dám khôi phục hoàn toàn sản xuất nên sản lượng cá cung cấp cho thị trường không dồi dào như những năm trước.

“Nếu trước đây bình quân mỗi chủ bè có 5 – 6 bè thả nuôi cá thì hiện nay họ chỉ dám thả nuôi 3 – 4 bè, mặc dù giá cá đang ở mức cao. Nguyên nhân là do đợt giá cá điêu hồng thấp dưới giá thành sản xuất năm ngoái (thua lỗ) trong thời gian dài đã làm cho người nuôi cụt vốn, trong khi đó hiện các đại lý kinh doanh thức ăn cá không còn bán thức ăn theo kiểu gối đầu như trước đây. Hiện nay, bình quân nuôi một bè nuôi cá điêu hồng thể tích 100 m3 giai đoạn từ 3 – 6 tháng cần phải có 5 – 7 bao thức ăn cá với giá trị gần 2 triệu đồng/ngày, do đó người nuôi cá không đủ vốn để thả nuôi hết các bè hiện có. Mặt khác, giá cá điêu hồng thời gian gần đây quá bấp bênh, nhiều lúc phải chịu lỗ nặng trong thời gian dài nên người nuôi cá cũng không yên tâm đầu tư vụ nuôi mới”, ông Nhân tâm tư.

Theo số liệu thống kê của ngành chức năng, tuần qua có 26 bè thu hoạch với sản lượng 150 tấn. Từ đầu năm đến nay đã có 856 bè với 16,748 triệu cá giống thả nuôi mới (chủ yếu thả trong quý II/2013), sản lượng thu hoạch 4.297 tấn. Hiện nay, toàn tỉnh có 1.004 bè đang thả nuôi trong tổng số 1.279 bè đang neo đậu (chiếm 78%).

Tìm Đường Sống Cho Cá Quý Sông Sêrêpốk – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Nguy cơ biến mất

Sự thay đổi toàn bộ hệ sinh thái trên dòng sông Sêrêpốk đã ảnh hưởng đến 201 loài cá trong khu hệ sông Mê Kông. Những loài cá di cư sinh sản đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, trong đó có cá Mõm trâu và Rô cờ.

Ở nước ta, 2 loài cá Mõm trâu và Rô cờ phân bố trong phạm vi hẹp trên lưu vực sông Sêrêpốk, chủ yếu ở huyện Buôn Đôn và Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. Cá Rô cờ thường di cư theo chiều dọc từ dòng chính sông Mê Kông vào vùng ngập nước lũ trong mùa mưa và quay trở lại vào mùa khô hoặc đến các vùng nước cư trú lâu dài khác. Trong khi, cá Mõm trâu (Bangana behri) là một loài cá trong chi Bangana thuộc họ cá chép (Cyprinidae) lại ưa thích những khúc sông rộng có nhiều ghềnh, đáy đá. Trong mùa khô và những tháng đầu mùa mưa có thể bắt gặp loài cá này trên các nhánh và suối thuộc sông Sêrêpốk; đến mùa mưa, cá Mõm trâu di chuyển đến vùng nước sâu hơn và sống ở đó suốt mùa mưa.

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III (RIA 3) cho biết, 5 năm trở lại đây, nguồn lợi hai loài cá này sụt giảm nghiêm trọng. Nếu như sản lượng khai thác cá Rô cờ còn khoảng 200 – 300 kg/năm, trọng lượng 0,3 – 0,8 kg/con và không còn khả năng khôi phục đàn, thì cá Mõm trâu chỉ đánh bắt được 6 cá thể vào năm 2014 tại huyện Buôn Đôn, đến năm 2015 thì không bắt gặp cá thể nào. Hai năm trở lại đây, loại cá này bắt đầu xuất hiện (trọng lượng khoảng 0,2 – 0,3 kg/con), có thể do quá trình thích nghi của cá với các thủy điện ngăn dòng và đóng xả nước không theo quy luật.

Khởi đầu đầy hy vọng

Xác định mức độ quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen và xây dựng quy trình sản xuất giống cá để tái tạo nguồn lợi hai loài cá trên trong tự nhiên, Bộ NN&PTNT đã triển khai đề tài “Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen và giống thủy sản nước ngọt khu vực Đắk Lắk năm 2019” và Sở Khoa học và Công nghệ Đắk Lắk tổ chức “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, thử nghiệm nuôi thuần hóa, sản xuất giống cá Rô cờ” do RIA3 thực hiện trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột và xã Hòa Lễ (huyện Krông Bông).

Tuy nhiên, đến năm 2018, nhóm thực hiện đề tài đã đưa cá Rô cờ thu thập được về nuôi thuần hóa trong ao đất tại TP Buôn Ma Thuột và lồng bè ở xã Hòa Lễ. Sau khoảng 7 tháng, cá đạt trọng lượng 0,7 – 1 kg/con. Qua thuần hóa cho thấy, cá Rô cờ có thể ăn tốt các loại thức ăn như: Thức ăn công nghiệp, cá tạp, ngô nấu chín, rau và quả chuối. Trong suốt quá trình thuần dưỡng, cá Rô cờ ít mắc bệnh, thời gian đầu chỉ bị lở loét do tác động của quá trình đánh bắt ngoài tự nhiên và vận chuyển. Kết quả đã thuần dưỡng được 143 con, khoảng 142,5 kg. Cuối năm 2018, từ đàn cá nuôi thuần hóa, nhóm thực hiện đề tài đã lựa chọn 132 cá thể khỏe mạnh, không dị hình để xây dựng đàn cá bố mẹ. Đến tháng 6/2019, đàn cá bố mẹ đã sinh sản.

Cũng trong tháng 6/2019, đàn cá Mõm trâu 100 con, nặng 0,2 – 0,3 kg/con thu thập từ sông Sêrêpốk thuộc xã Krông Na (huyện Buôn Đôn) được vận chuyển về nuôi thuần dưỡng trong ao đất nước chảy có diện tích 800 m2 ở xã Hòa Lễ. Tỷ lệ sống của đàn cá trên sau một tháng nuôi đạt 82%. Sau 4 tháng lưu giữ, cá đạt chiều dài 23 – 34 cm, trọng lượng 0,3 – 0,5 kg/con, bắt đầu thích nghi tốt với điều kiện môi trường trong ao đất nước chảy, so với ngoài tự nhiên, tốc độ tăng trưởng của cá Mõm trâu trong môi trường nhân tạo khá chậm.

Đại diện Chi cục Thủy sản Đắk Lắk cho biết, việc hoàn thành công trình nghiên cứu, sản xuất giống cá Mõm trâu và Rô cờ đưa vào nuôi đại trà sẽ góp phần chủ động về con giống, hạn chế tình trạng đánh bắt trong tự nhiên.

Phương Ngọc

Cá Hải Tượng – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Cá hải tượng có tên khoa học là Arapaima gigas, phân bố chủ yếu tại Nam Mỹ, lưu vực sông Amazon. Đây là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới, chiều dài có thể trên 3 m, trọng lượng 200 kg. Cá có thân dài, hình trụ và được bao phủ  bởi lớp vảy to và dầy (có thể dài đến 6 cm). Miệng cá rộng, có 2 mảng xương, hàm trên có 32 răng, hàm dưới có 35 răng. Lưỡi xương, ít cử động, nhiều răng cưa nhỏ. Ống tiêu hóa của cá ngắn. Cá hải tượng thở bằng mang, nhưng bóng cá lại có chức năng hoạt động gần như phổi, giúp cá có khả năng thở trên không khí, vì vậy chúng có thể sống trong môi trường có hàm lượng ôxy hòa tan thấp. Cá có màu ghi sáng với những ánh xanh lơ. Các vảy phía thân dưới có ánh đỏ, càng về phần đuôi thì càng rõ rệt. Cá có vây đuôi tròn; vây lưng và vây bụng đối xứng nhau và nằm ở 1/3 phần thân sau. Cá thường sinh sản vào mùa mưa, trong điều kiện nuôi nhốt. Trứng cá có kích thước lớn từ 2,5 – 3 mm.

Ở Việt Nam, cá hải tượng được nuôi làm cảnh

Cá hải tượng phân bố chủ yếu ở Nam Mỹ như Colombia, Brazil, vùng đảo Guyan, khắp lưu vực sông Amazon và các phân nhánh của nó.

Cá hải tượng được phát triển nuôi thương phẩm tại một số nước như Peru, Brazil với nguồn giống dựa vào sinh sản tự nhiên trong quá trình nuôi nhốt. Trong điều kiện nuôi nhốt, cá có thể đẻ trứng 5 – 7 lần/năm. Thức ăn sử dụng để nuôi thương phẩm là thức ăn tươi hoặc thức ăn công nghiệp với hàm lượng đạm khoảng 40%. Sau 12 tháng, tính từ khi cá bắt đầu nở, cá đạt trọng lượng thương phẩm 10 – 15 kg/con.

Tại Việt Nam, hải tượng được nuôi làm cảnh, được bán với giá rất đắt tại thành phố Hồ Chí Minh, được các đại gia “chơi” cá cảnh ưa thích. Một cặp cá hải tượng giống, dài 20 cm có giá khoảng 3,5 triệu đồng. Chi phí mua thức ăn để nuôi loài cá này khá tốn kém, trung bình 1 con cá hải tượng dài 1,5 m; mỗi ngày ăn hết gần 5 kg cá.

Cá hải tượng là loài giới hạn mua bán quốc tế quy định tại phụ lục 2 Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (Công ước CITES II). Loài cá này mặc dù hiện chưa bị nguy cấp nhưng có thể dẫn đến tuyệt chủng nếu không khai thác hợp lý. Việc buôn bán những loài này giữa các quốc gia cần có Giấy phép Xuất khẩu do cơ quan quản lý CITES nước xuất khẩu cấp.

Bạn đang xem bài viết Ðâu Rồi Cá Mát Sông Giăng ? – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!