Xem Nhiều 11/2022 #️ Cơ Hội Làm Giàu Từ Cá Chiên Thương Phẩm – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 # Top 16 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 11/2022 # Cơ Hội Làm Giàu Từ Cá Chiên Thương Phẩm – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 # Top 16 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Cơ Hội Làm Giàu Từ Cá Chiên Thương Phẩm – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nguy cơ tuyệt chủng loài cá quý

Cùng với lăng chấm, anh vũ, rầm xanh, bỗng, cá chiên được liệt vào hàng đặc sản tiến vua. Thường sống ở tầng đáy, ưa những nơi có khe nước chảy, đáy là cát đá, cá chiên có thể biến đổi màu, ở môi trường nước trong cá có màu nâu đen, trong môi trường nước đục cá có màu vàng nâu. Theo Thạc sĩ Trần Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Giống thủy sản miền Bắc, hiện nay, việc khai thác quá mức bằng những phương tiện hủy diệt đã làm nguồn lợi cá chiên suy giảm nghiêm trọng. Sản lượng cá tự nhiên đang ngày càng ít và được xếp ở mức độ nguy cấp bậc 2. Một số ngư dân cho biết, số lượng bãi cá của cá chiên còn rất ít, cá có trọng lượng trên 1 kg ngày càng giảm.

Cá chiên được coi là cá đặc sản của các vực nước nhiệt đới. Không những vậy, da cá chiên cỡ lớn có thể thuộc làm đồ dùng. Nuôi cá chiên thương phẩm không những mang lại thu nhập cao cho người dân mà còn góp phần bảo vệ một loài cá quý hiếm trước nguy cơ tuyệt chủng, góp phần bảo vệ nguồn lợi và phát triển đa dạng sinh học.

Cá chiên dễ nuôi, giá trị thương phẩm cao

Nguồn thủy sản tiềm năng

Cá chiên dễ nuôi, giá trị thương phẩm cao, ít bị dịch bệnh, tập tính sinh trưởng khá đơn giản, không tốn nhiều thức ăn. Hiện tại, Trung tâm Giống thủy sản miền Bắc tại Thạch Khôi – Hải Dương đã thành công trong việc nghiên cứu và sản xuất giống cá chiên, đảm bảo quy trình nuôi cho cá đạt giá trị thương phẩm cao.

Anh Nguyễn Đức Thống, cán bộ phụ trách sản xuất tại Trung tâm cho biết: Thực tế một số mô hình nuôi cho thấy, nếu người nuôi chọn mỗi lồng cá có từ 100 – 150 con, sau hơn một năm nuôi, trung bình mỗi con đạt từ 1,3 – 1,8 kg, tổng sản lượng đạt từ 190-250 kg/lồng. Giá cá chiên bán trên thị trường hiện nay dao động từ 250.000 – 300.000 đồng/kg, người nuôi cá chiên sẽ có lãi, thu nhập mỗi năm có thể trên 60 triệu đồng.

Việc nghiên cứu thành công quy trình công nghệ sản xuất giống cá chiên của Trung tâm sẽ giúp người nuôi chủ động sản xuất con giống, dần dần hạn chế và chấm dứt tình trạng đánh bắt cá chiên giống tự nhiên. Đồng thời, giúp mở rộng và phát triển nuôi đối tượng cá có giá trị kinh tế cao, góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Cá chiên thương phẩm hứa hẹn trở thành nguồn thủy sản tiềm năng phục vụ xuất khẩu.

Gần đây, đã có nhiều mô hình nuôi cá chiên trong lồng ở các sông lớn như sông Mã, sông Lô, Kinh Thầy. Tuy nhiên, vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, lợi nhuận chưa xứng với tiềm năng của cá chiên. Thiết nghĩ, ngành thủy sản cần xây dựng mô hình nuôi cá chiên hiệu quả, phù hợp, vừa mang lại thu nhập cao cho người nông dân, vừa đảm bảo môi trường, vừa tương xứng với nguồn cá quý thiên nhiên ban tặng.

Trần Phương

Làm Giàu Từ Nuôi Chạch Lấu – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Đặc điểm sinh học

Chạch lấu (Mastacembelus favus) là loài cá nước ngọt có thân màu xanh đậm hoặc đen xám, trên thân có nhiều đốm vàng hình tròn hoặc bầu dục; vây lưng, vây hậu môn và vây ngực có đốm đen nhỏ; không có vây bụng.

Ở Việt Nam, cá này được gọi theo các tên: chạch lấu, chạch bông (Nam bộ), chạch chấu, chạch làn (Trung bộ và Bắc bộ). Được phân bố ở hầu hết các tỉnh, chạch lấu ưa sống tại các khe đá thuộc sông suối, nơi có dòng nước chảy xiết, hàm lượng ôxy hòa tan cao. Khi còn nhỏ, thức ăn chủ yếu của cá là giun, ấu trùng côn trùng, giáp xác nhỏ. Khi lớn, cá ăn côn trùng trưởng thành, tôm tép, cá nhỏ và mùn bã hữu cơ.

Ngoài tự nhiên, tăng trưởng của cá chạch lấu sau 1 năm tuổi có thể đạt 150 – 250g, dài 18 – 25cm; sau 2 năm đạt 450 – 500g, dài 35 – 40cm. Chúng thành thục và sinh sản sau 2 – 3 năm; con đực thường lớn hơn con cái, dẫu cùng tuổi. Con cái có sức sinh sản 4.500 – 7.500 trứng/lần; trứng có kích thước nhỏ, màu vàng. Cá thường sinh sản vào mùa mưa lũ, nước đục, từ tháng 6 đến tháng 9; nơi sinh sản là hang hốc, khe đá ngầm ven sông suối.

Trong quá trình ương nuôi, nếu sử dụng thức ăn tươi sống, nhất là trùn chỉ, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của chạch lấu sẽ cao hơn so với thức ăn khác.

Loài nuôi tiềm năng

Với giá bán thương phẩm trên thị trường 350.000 – 400.000 đồng/kg, hiện nay phần lớn cá được các nhà hàng khách sạn tiêu thụ và luôn trong tình trạng cung không đủ cầu. 

Quy trình sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá chạch lấu đã được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, Trường Đại học Cần Thơ, Đại học An Giang nghiên cứu, hoàn thiện và nhân rộng ra các trại giống trên cả nước, mỗi năm sản xuất hàng chục vạn con giống với giá bán 8.000 – 10.000 đồng/con (cỡ 8 – 10cm).

Chạch lấu đang được nuôi chủ yếu ở 3 loại hình: lồng bè, bể, ao đất. Thức ăn cung cấp cho chúng từ nguồn tôm cua, cá tạp tự nhiên.

Nuôi chạch lấu trong ao đất diện tích nhỏ, trong bể là giải pháp thực tiễn cho những nơi diện tích đất bị thu hẹp. Ở miền Bắc, mô hình nuôi cá chạch lấu phát triển mạnh tại các huyện Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Gia Lộc (tỉnh Hải Dương), nguồn giống chủ yếu được cung cấp bởi Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1.

Ở miền Nam, năm 2012, Sở Khoa học và Công nghệ Kiên Giang đã xây dựng mô hình nuôi chạch lấu thương phẩm trên diện tích 1.400m²; mật độ thả 6 con/m2; sử dụng cá tạp, cua, ốc, tép làm thức ăn. Sau 10 tháng, cá phát triển tốt, ít bệnh, tỷ lệ sống đạt 80%, trọng lượng đạt 0,3 kg/con, ước tính sản lượng khoảng 2 tấn, trừ chi phí (giống, thức ăn, thuê ao) còn lãi 200 – 300 triệu đồng.

Cần cân nhắc khi nuôi

Cá chạch lấu giống đã được sản xuất và bán ở hầu hết các địa phương trên cả nước, rất phù hợp các hộ nông dân có diện tích nuôi nhỏ lẻ. Tuy nhiên, loài cá này có tốc độ sinh trưởng chậm, thời gian nuôi dài (10 tháng trở lên), đòi hỏi các hộ nuôi phải có khả năng tài chính. Thức ăn dùng cho chúng chủ yếu là tôm, cua, ốc, cá tạp nên những người nuôi cá quy mô lớn sẽ khó chủ động nguồn thức ăn.

Ngoài tự nhiên chạch lấu thường sống trong nước sạch, hàm lượng ôxy hòa tan cao; do vậy khi nuôi trong bể hoặc ao đất phải đầu tư nhiều thiết bị (sục khí, máy bơm, dụng cụ đo môi trường…), đồng thời phải quản lý chặt môi trường nước.

Nên mua cá giống cỡ 5cm trở lên; không thả giống cỡ nhỏ, tỷ lệ sống thấp.

Tại miền Bắc: Phòng Di truyền, chọn giống – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; điện thoại 043 878 0614

Tại miền Nam: Trung tâm Giống thủy sản An Giang; điện thoại 076 224 0245

Trại giống Thủy sản Cồn Khương – Cần Thơ; điện thoại 0934 747 407

Hiệu Quả Nuôi Cá Giò Thương Phẩm – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Nhu cầu giống tăng mạnh

Cá giò hay còn gọi là cá bớp phân bố ở vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và vùng nước ấm của biển ôn đới. Trong tự nhiên, cá giò sống ở vùng nước mặn hoặc nước lợ ven biển, rạn san hô cho đến vùng biển khơi. Cá giò thuộc loại cá dữ, ăn thịt động vật, thức ăn tự nhiên gồm cua, tôm, ốc và các loại cá con. Tốc độ sinh trưởng của cá nhanh, từ con giống cỡ 20 – 25g/con sau 1 năm nuôi có thể đạt cỡ 4 – 6 kg/con. Cá giò thành thục lần đầu tiên sau 2 năm tuổi, mùa sinh sản của cá giò ở miền Bắc từ tháng 4 – 7 hàng năm.

Cá giò sinh trưởng nhanh, cho hiệu quả cao

Hầu hết các lồng nuôi chỉ sử dụng con giống từ nguồn sinh sản nhân tạo vì sự khan hiếm con giống loài này ở tự nhiên. Chính vì vậy, nhu cầu con giống đang ngày càng gia tăng ở nhiều địa phương. Hiện nay, quy trình sản xuất giống cá giò đã ổn định và đơn giản hóa để áp dụng rộng rãi. Quá trình bắt đầu từ nuôi vỗ cá giò bố mẹ trong lồng lưới. Ở tuổi thứ 2, cá giò có thể thành thục tuyến sinh dục. Khi sinh sản, cho cá đẻ trong bể xi măng hoặc trong giai, ấp trứng và ương ấu trùng trong bể composite hoặc bể xi măng. Cá giò thường đẻ vào ban đêm, tập trung vào thời gian từ 21 – 24 giờ. Trứng được thu ngay sau khi đẻ, tách riêng và ấp ở nhiệt độ 28 – 300C. Sau 24 – 28 giờ, trứng sẽ nở thành cá bột có chiều dài 4 – 4,2mm. Ở ngày tuổi thứ 3, cá bắt đầu ăn sinh vật phù du cỡ nhỏ như luân trùng, ấu trùng hàu hà, nauplius của copepoda, tiếp đến là loại cỡ lớn như copepoda trưởng thành, artemia ấu trùng và trưởng thành, sau đó có thể luyện cho chúng ăn thức ăn hỗn hợp. Giải quyết thức ăn tươi sống cho ấu trùng cá bằng việc nuôi tảo thuần trên túi nilong, nuôi luân trùng thâm canh trên bể nhỏ, gây nuôi sinh vật phù du trên ao đất vùng nước lợ. Tỷ lệ cá giống tính từ khi nở cỡ 12 – 15cm đạt 4 – 5%, thời gian ương từ 50 – 60 ngày. Vì vậy, việc áp dụng quy trình sản xuất giống cá giò dễ dàng, thuận lợi và có điều kiện mở rộng.

Cần kiểm tra định kỳ

Do cá giò có tốc độ sinh trưởng nhanh, giá thị trường khá cao nên được nuôi phổ biển ở nhiều tỉnh ven biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Phú Yên, Khánh Hòa, Kiên Giang… Hình thức nuôi chủ yếu là nuôi lồng trên biển. Có 2 kiểu lồng nuôi phổ biến là lồng gỗ có kích thước từ 27 – 216 m3, thường được nuôi ở vùng kín sóng gió và lồng nhựa chịu lực HDPE hình tròn (thể tích từ 300m3 trở lên) có khả năng nuôi được ở những vùng biển hở. Cỡ mắt lưới lồng dùng cho lồng nuôi cá thương phẩm tăng dần theo sự tăng trưởng của cá. Trong quá trình nuôi, cần theo dõi tình trạng sức khỏe và bệnh tật của cá để kịp thời xử lý. Cần định kỳ vệ sinh và thay đổi lưới lồng 2 – 3 tháng/lần để đảm bảo thông thoáng cho lồng nuôi. Cần định kỳ kiểm tra neo, lưới… và khi cần thì kịp thời bảo dưỡng hoặc thay thế để giảm thiểu rủi ro do hư hỏng lồng. Hàng tháng đo mẫu để xác định tăng trưởng của cá (chiều dài và khối lượng cá), qua đó xác định được khối lượng đàn cá trong lồng để điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý. Cá thu hoạch tốt nhất từ 5 – 10 kg. Trong quá trình nuôi khi cá đạt cỡ thương phẩm có thể thu tỉa để bán dần và nên thu hoạch, bán hết khi có đầu ra để quay vòng chu kỳ nuôi mới.

Hải Linh

Nguy Cơ Tuyệt Chủng Cá Chiên Sông Gâm – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Cá chiên có đặc điểm là đầu dẹp bằng, phía trước thân thô lớn và dẹp bằng, phía sau tròn. Miệng cá rộng, hình cung, răng nhọn, hình dùi. Cá chiên lúc còn nhỏ ăn côn trùng sống dưới nước, khi lớn lên thức ăn chủ yếu là cá. Cá chiên có tốc độ tăng trưởng khá nhanh. Ba năm đầu cá chiên đực lớn nhanh hơn, sau đó cá cái lại lớn nhanh hơn. Mùa vụ sinh sản của cá chiên vào mùa lũ, khi cá còn non có ít sự sai khác (khó phân biệt) giữa cá đực và cá cái. Khi cá thành thục, lỗ sinh dục của cá cái hình ovan có rãnh dọc ở giữa; lỗ sinh dục của cá đực dài và nhọn, không có rãnh.

Cá chiên sông Gâm

Những dòng sông trên thượng nguồn của hệ thống sông Hồng thường có đặc điểm là sông có độ dốc lớn, dòng chảy xiết, nhiều dải đá ngầm. Môi trường nước nơi đây thay đổi theo mùa và khắc nghiệt: mùa mưa nước đục phù sa, mùa khô thì nước trong xanh và lạnh lẽo. Chỉ có những loài cá có sức khỏe, khả năng chống chịu tốt như cá chiên mới có thể tồn tại và sinh trưởng ở nơi đây. Chính vì thế, thịt cá chiên thường dai, chắc và thơm ngon, mùi vị không “đụng hàng” với bất kỳ loài cá nào. Người ta săn tìm cá chiên bất kể ngày đêm, nguy hiểm rình rập cũng chỉ vì giá trị của nó. Cũng giống như số phận các loài cá quý hiếm khác như cá lăng, cá rầm xanh, anh vũ, cá bỗng, cá chiên trong tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt, đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao, cần được bảo vệ.

Một chủ quán đặc sản cá sông ở TP Việt Trì (Phú Thọ) cho biết, cá chiên tự nhiên mặc dù giá cao nhưng nhiều khi cũng không có để mà mua, mặc dù ông chủ này nắm trong tay khá nhiều “tay săn cá” lâu năm. Thậm chí, nhiều người trước đây từng săn bắt loài cá này cũng đã chuyển sang nghề khác hoặc nuôi cá lồng trên sông đã cho thấy rõ nhất sự cạn kiệt của cá chiên. Với những người chuyên săn bắt cá chiên và nhiều loài cá quý thì cá chiên trong tự nhiên ngày càng khan hiếm, có chuyến đi săn phải về tay trắng hoặc chỉ có thể bắt được những con cá nhỏ.

Cá chiên khá dễ nuôi, ít bệnh, thức ăn chủ yếu là tép, cá tạp. Đây là nguồn thức ăn khá sẵn tại nhiều địa phương. Thực tế từ nhiều mô hình cho thấy, mỗi lồng nuôi thả từ 100 – 150 con giống, sau hơn một năm sẽ đạt sản lượng từ 180 – 250 kg/lồng (khoảng 1,3 – 1,7 kg/con). Với giá bán trên thị trường hiện nay từ 250.000 – 350.000 đồng/kg, trừ chi phí cũng mang lại một khoản lợi nhuận không nhỏ cho người nuôi.

Để bảo vệ các loài cá quý trước nguy cơ cạn kiệt, nhiều địa phương đã nhân giống thành công hầu hết các loài cá giống quý hiếm trong đó có cá chiên như Tuyên Quang, Yên Bái… Bên cạnh đó, nhiều mô hình nuôi cá chiên trong lồng trên sông, hồ chứa, hồ thủy điện, đã mang lại những kết quả tốt, mở ra hướng mới phát triển kinh tế địa phương, góp phần bảo vệ cá chiên trong tự nhiên.

Bạn đang xem bài viết Cơ Hội Làm Giàu Từ Cá Chiên Thương Phẩm – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!