Xem Nhiều 2/2023 #️ Cá La Hán Trân Châu # Top 9 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 2/2023 # Cá La Hán Trân Châu # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Cá La Hán Trân Châu mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cá la hán Trân Châu là kết quả lai tạo chéo giữa thế hệ thứ nhất của loài Cá La Hán với loài Cishlasoma Robertsoni. Cá La Hán Trân Châu có đặc điểm rất dễ phân biệt đó là: gần phần đầu có những hoa văn đen như đốm trân châu mực. Châu là các hoa văn màu ánh kim lục, dương, vàng hay bạc nằm trên mặt vảy. Về cơ bản, chúng ta có thể chia châu làm hai dạng là châu hột và châu sợi. Những phân dòng cá Việt như Kim Cương, Kim Cương Phúc Lộc Thọ đều được xếp vào dòng Trân Châu La Hán.

So với La Hán đời đầu dòng cá la hán trân châu có nhiều “châu” hơn và tỷ lệ lên đầu cũng được cải thiện. Tuy nhiên kích thước của Châu La Hán lại kém hẳn La Hán đời cũ, chỉ cỡ bàn tay là tối đa. Đây là dòng cá cảnh đẹp phổ biến nhất cho đến tận ngày nay. Có vô số tên thương mại trên thị trường nhưng về cơ bản chúng ta có thể phân Châu La Hán ra làm hai loại dựa trên màu nền chủ đạo, nền xanh và nền đỏ.

Rồng đỏ (RD) hay nền đỏ

Là phân dòng phổ biến nhất với màu đỏ làm chủ đạo. Trên thực tế, có nhiều loại rồng đỏ với nguồn gốc lai tạo, dạng châu và tông màu đỏ khác nhau.

Cá la hán trân châu nền xanh hay Rồng xanh (BD).

Vẫn có chút màu đỏ hay hồng ở phần ức nhưng màu xanh chủ đạo, ít châu. Rồng xanh rất gần với cichlid thuần (Trimac).

Phân dòng cá la hán kim cương

Đặc điểm chung của phân dòng này là mặt vàng, nhiều châu, đa số có ức màu kem thay vì đỏ. Châu trên thân thường dính, hoa văn không rõ ràng. Những con đời đầu là “kim cương phúc lộc thọ – KCPLT”, những con châu quấn đầu là “nữ hoàng kim cương – NHKC”, những con lai với king kamfa gọi là “king kim cương – KKC”. Do lai cận huyết để lấy đầu mà bỏ qua dị tật nên dòng kim cương ngày nay hầu như thoái hóa: đa phần đuôi xụp, đặc biệt nhiều cá đẹt, lớn không quá 4 ngón tay.

Cá la hán trân châu-malau (ZZmalau)

Phân dòng lai giữa Trân Châu với Kamalau để cải thiện về châu, màu và vây. Tuy nhiên phân dòng này vẫn mang đặc điểm đặc trưng của Trân Châu La Hán (và có nguồn khẳng định nó không bao giờ đạt chất lượng của Kamalau chính hiệu).

Những đặc điểm trên cơ thể cá la hán trân châu

*Đầu gù: La Hán Trân Châu có cái đầu gù lớn nhất so với hai dòng còn lại, cái đầu gù rất dễ nhìn thấy cho dù cá chưa trưởng thành.

*Mắt: hai mắt cách xa nhau, mắt có màu đỏ và có đường kính lớn.

*Miệng: môi khá dày và thường trể xuống, môi trên tương đối ngắn. Miệng luôn mở ra.

*Thân hình: thân hình tròn trịa, các cơ lưng tạo thành một vùng u ngay bên dưới vây lưng.

*Hoa Văn: hoa văn hai bên đầu và trên trán thường rõ ràng và sắc nét hơn cá La Hán bình thường. Những đốm ngọc trai trên trán thường nhô ra ngoài.

*Vây lưng: vây lưng trải dài ra và tạo thành một góc khoảng 50° với mình cá.

*Vây đuôi: vây đuôi có hình cánh quạt dài, có thể gập lại dễ dàng nếu bể cá có kích thước nhỏ. Vây đuôi có những chấm nhỏ như hạt ngọc trai rất đẹp.

* Cá tính: ở trạng thái bình thường cá rất hiền, nhưng khi bị kích thích thường tỏ ra rất hung hăng.

Đặc điểm về sinh trưởng và sinh sản của cá

La Hán Trân Châu sinh sản khá dễ dàng, ti lệ cá con sống rất cao. Khả năng đẻ mỗi lần khoảng 100 – 600 trứng.

La Hán Trân Châu có đặc điểm là khi trưởng thành màu sắc và hoa văn trên cơ thể không thay đổi bao nhiêu so với lúc cá còn nhỏ.

Cá Mú Trân Châu Tươi Sống

– Làm chết cá bằng phương pháp cấp đông bằng đá giữ thịt cá tươi ngon, nguyên chất

là một giống trong họ Cá mú trân châu cá mú, đây là một loài cá sống trong khu vực nước mặn được nhiều nước trong khu vực châu Á nuôi đạt năng suất kinh tế cao như Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam.

– Cá mú trân châu tươi ngon có thân hình cỡ hơn bàn tay người lớn có những đặc điểm rất đặc trưng của loài cá mú như: có màu sọc rằn đen vàng, hoặc màu đen vàng trên mình, thân vừa có màu vàng đậm vừa có nhiều chấm đen to tròn nhưng không kéo dài giống như viên trân châu vậy nên chúng mới mang tên là cá mú trân châu.

– Cá mú trân châu là loài ăn tạp, trong tự nhiên thức ăn chủ yếu của cá là động vật và cá sinh vật trong nước.

– Hiện nay cá mú trân châu được nuôi khá phổ biến ở các tỉnh miền nam và miền trung.

HÌNH ẢNH CÁ MÚ TRÂN CHÂU TƯƠI SỐNG

CÂN CÁ MÚ TRÂN CHÂU TƯƠI SỐNG

– Nói đến hải sản tươi sống không thể không nhắc đên cá mú trân châu, đây là một trong những loài cá được xếp vào loại quý hiếm có giá trị kinh tế cũng như giá trị dinh dưỡng cao.

– Cá mú trân châu là một trong những loài cá khó nuôi nhất. Bất kỳ kỹ thuật sai được sử dụng sẽ làm hỏng hương vị và kết cấu của cá mú trân châu. Vì vậy chúng tôi đã sử dụng thức ăn tốt và môi trường sống đảm bảo để cá có thể phát triển 1 cách tự nhiên giúp cho chúng có thịt mềm và nhiều dầu.

– Thịt cá mú có màu trắng, rất ngọt, dai lại có hương thơm đặc biệt bởi thành phần dinh dưỡng đặc biệt của nó, chất đạm rất cao nhưng ít béo, mặt khác giúp bổ sung thêm các axit amin mà cơ thể không tự tổng hợp được nên có tác dụng rất tốt trong việc nâng cao sức khỏe.

– là loài cá được lai tạp giữa Cá mú trân châu cá mú nghệ và cá mú cọp nên cá mú trân châu tươi ngon cũng sở hữu được vị ngon từ cá bô mẹ, thịt cá vừa dai vừa ngọt, béo, thịt chắc để lại hương vị đậm đà khó quên sau khi thưởng thức.

– Sở dĩ cá mú trân châu được xếp vào hàng đặc sản của các loài cá biển bởi vì giá trị dinh dưỡng cao của cá mang lại cộng thêm hương vị thơm ngon đặc biệt không lẫn vào đâu được.

– Ngoài những giá trị dinh dưỡng mà cá mang lại thì cá mú trân châu còn có tác dụng giải nhiệt khá tốt và cung cấp khá nhiều hàm lượng dinh dưỡng cho người tiêu dùng như: vitamin, photpho, sắt, đặc biệt là calcium với tác dụng bổ khí rất tốt.

Cá mú trân châu đút lò

Bạn muốn chế biến món cá mú trân châu đút lò trước hết bạn cần chuẩn bị thịt cá mú trân châu phi lê. Để có thịt cá mú phi lê bạn cần chọn cá mú trân châu tươi sống, sau đó sơ chế sạch sẽ rồi dùng dao bén tách đi phần thịt bên ngoài lườn cá, đây là phần thịt có hương vị thơm ngon nhất của cá mú. Tiếp theo ướp thịt cá mú phi lê với 1 muỗng tỏi băm, 1 muỗng ớt, sa tế, nước mắm, dầu hào, hành lá. Sau khi đã ướp xong các gia vị để phần thịt thấm khoảng 20 phút rồi đem đi đút lò. Vậy là chúng ta đã có món cá trân châu đút lò thơm ngon mang hương vị đặc trưng của cá mú.

Nguyên liệu cần chuẩn bị:

Hành lá, gừng, xì dầu, nước tương, dầu ăn, hành tím

Bước 1: Cá làm sạch rửa cùng dấm để khử mùi tanh hoặc chanh ” sau khi rửa cá để ráo, pha 2 muỗng nước tương, 1 muỗng dầu hào, 1 ít hành ít tiêu. Ướp cá 10ph.

Bước 2: Đồ hấp như mình, hoặc lấy giấy bạc phủ kín xửng hấp, lót hành Tây, đầu hành, cho cá lên ” mục đích như vậy cho cá thoát hơi chính điều và cá sẽ ngọt và thơm

Bước 3: Nấu nước thật sôi, tắt bếp cho cá vào hấp liền, trong lúc hấp tuyệt đối không được mở nấp ra, cá nhỏ hấp tầm 10ph – lớn 15- 20 ph. Cắt cá ra nếu cá bự. Cho gừng ít gừng lên trên cá và hấp.

Bước 4: Trong khi cá hấp ” thì bạn cho chảo lên bếp đung nóng cho ít dầu ăn vào, phi hành Tây và hành tím cho thơm, cho 6 muỗng nước tương, 3 muỗng dầu hào vào đung sôi. Cá khi chín nước nhiều có thể đổ đi bớt, và rưới nước hỗn hợp nầy lên cá đậy nắp 2 phút là được.

Bước 5: Cho hành lá lên trên trang trí, ăn cùng nước tương và cơm nóng cho tí dầu ăn vào chảo cho ớt và tỏi 1 xíu đường xào thơm, ăn cùng nước mắm nước tương sẽ thơm hơn.

300 gram cá mú trân châu tươi

Rau tía tô, chanh tươi. wasabi (mù tạt xanh Nhật Bản), nước tương Nhật

Để có món sashimi hoàn hảo thì yếu tố đầu tiên phải kể đến đó là chọn được những miếng cá mú tươi ngon. Để chọn được những miếng cá hồi tươi ngon, khi đi mua có thể dùng tay ấn vào thớ thịt, nếu thấy chắc có sự đàn hồi tốt, màu sắc và đường vân tươi sáng thì đó là cá hồi tươi. Cá mú trân châu sau khi chọn được miếng tươi ngon, rửa sạch, sau đó dùng khăn sạch thấm khô cá.

Dùng dao sắc cắt cá thành những miếng mỏng có độ dày khoảng 0.5cm.

Củ cải trắng chúng mình đem rửa sạch, bỏ vỏ, thái mỏng củ cải như hình dưới. Lá tía tô rửa sạch, để ráo nước. Xếp cá lên đĩa cùng củ cải sợi, tía tô, wasabi. Chuẩn bị chanh tươi và nước tương ăn kèm

Khi ăn chúng mình ghém từng miếng cá mú với lá tía tô, vắt thêm tí chanh, thêm chút mù tạt xanh của Nhật, chấm cùng nước tương. Cảm giác ngọt ngào đến lạ của những miếng cá tươi, không hề bị tanh, một chút mù tạt cay cay, cộng với vị chua chua của chanh khiến món ăn thật hòa hợp. Tự làm sashimi cá mú trân châu tại nhà thật đơn giản phải không nào? Quan trọng nhất là mua được nguồn thực phẩm tươi ngon, bỏ ra chút xíu thời gian là có ngay món ăn ngon tuyệt, cực kỳ bổ dưỡng rùi.

Cá Rồng Trân Châu Úc Và Cách Nuôi

Cá Rồng Trân Châu Úc có tên khoa học: Scleropages Jardini, hay Osteoglossum Jardini. Cá rồng trân châu có những đốm màu trắng nhỏ trên vây lấp lánh như những ngôi sao rất đẹp. Cách nuôi loài cá rồng này cũng tương đối giống các loài cá rồng khác.

Tên tiếng Anh: Australia Pearl Arowana, Gulf Saratoga, Jadini Arowana.

Nguồn gốc: thuộc họ Osteoglossidae ở châu úc.

Môi trường nước thích hợp: nhiệt độ khoảng 23 – 26°c, độ pH khoảng 6.5 – 7.8, độ cứng dH khoảng 8-16.

Chiều dài cá trưởng thành: tối đa 80cm.

Tuổi thọ: khoảng 10 – 20 năm.

Đặc điểm của cá rồng trân châu:

Cá Rồng Trân Châu có hình dáng tương tự như cá Rồng ở châu Á, nhưng vảy của chúng nhỏ hơn và có nhiều chấm đỏ đậm hay nâu. Cơ thể của cá Rồng Trân Châu thường có màu vàng đồng nhạt, vảy có hình bán nguyệt xếp chồng lên nhau tới 7 tầng (các loại cá Rồng khác chỉ 5 tầng). Các bộ phận vây thường có màu đen và điểm các chấm vàng hay bạc. Trân Châu có kích thuớc nhỏ hơn so với các loại cá Rồng khác.

Trong các loại cá rồng, Trân Châu thuộc loại có tính khí hung dữ nhất và không thích hợp để nuôi ghép.

Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản

Cá Rồng Trân Châu sẽ trưởng thành khi được 3-4 năm tuổi. Cá trống thường có vây hậu môn dài hơn cá mái. Cá mái có thân hình tròn trịa, bụng hơi căng.

Muốn cho Trân Châu sinh sản trong môi trường nuôi nhốt phải chuẩn bị một cái bể hình vuông có kích thước tối thiểu là 2m, nếu bể có kích thước nhỏ thì việc sinh sản khó thành công.

Khi cá bắt cặp với nhau, cả hai con sẽ lượn vòng quanh nhau, và động tác này sẽ kéo dài có khi cả tuần, sau đó cá mái mới đẻ trứng. Thời gian cá mái đẻ trứng thường vào bổi chiều, mỗi lần đẻ khoảng 70 – 100 trứng.

Sau khi cá mái đẻ xong, cá trống sẽ bơi tới và thụ tinh cho trứng, sau đó ngậm trứng vào miệng. Sau khoảng 2 tháng kể từ khi cá mái đẻ, trứng nở thành cá con trong miệng cá trống. Từ tháng thứ 2 trở đi kể từ khi cá con ra đời, có thể tách cá con sống riêng với cá bố mẹ.

Cách nuôi cá rồng Trân Châu

Bể nuôi: đối với cá trưởng thành, bể nuôi phải có kích thước tối thiểu là 1,5m. Bể phải có nắp đậy và phải trang bị hệ thống máy lọc nước và máy sục khí. Đèn chiếu sáng trong bể phải được bật tối thiểu 12 tiếng đồng/ ngày.

Thức ăn: thức ăn chủ yếu của Trân Châu là trùn đất, cá, tôm, dế, gián. Ngoài ra cần phải tập cho cá ăn thức ăn dạng viên nhằm cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cá phát triển.

Cá Mú Trân Châu Hiệu Quả Kinh Tế Cao

I. Vận chuyển cá giống

Để giảm thiểu hao hụt và đảm bảo sức khỏe cho cá khi phải vận chuyển đi xa, cần phải biết cách xử lý cá trước khi vận chuyển đồng thời nắm rõ các biện pháp kỹ thuật vận chuyển.

Cá mú giống

1. Xử lý cá trước khi vận chuyển

Cá mú con đánh bắt ngoài tự nhiên phải được nhốt tạm từ 1-2 tuần trong bể hoặc trong thùng có sục khí liên tục. Hai ngày đầu không cần cho ăn. Từ ngày thứ 3, cho ăn ít và tăng liều lượng lên dần. Sau đó dùng các học lưới với kích cỡ mắt lưới khác nhau để phan loại cá theo các kích cỡ sau đây:

– Cá bột nhỏ: 2,5-5cm

– Cá bột lớn: 5-7,5cm

– Cá giống nhỏ: 7,5-10cm

– Cá giống trung bình: 10-12,5cm

Sau khi phân loại, nên tắm cho cá bằng nước ngọt (từ 15-30 phút) để diệt các vi sinh vật có hại, sau đó mới vận chuyển về nơi ương nuôi. Lưu ý những con bị thương phải được nuôi dưỡng trong bể riêng, khi chúng hồi phục hoàn toàn thì mới vận chuyển về ao ương nuôi.

Với cá ương trong bể, thời điểm thu hoạch cá thích hợp nhất là vào lúc sáng  sớm hoặc chiều mát. Dùng vợt mềm vớt cá cho vào giai hoặc bể nước sạch đã chuẩn bị trước. Thao tác vớt phải nhanh và nhẹ nhàng.

Trước khi vận chuyển, phải nhốt cá trong giai nước sạch với mật độ dày để cho chúng quen dần với diều kiện sống chật hẹp và thải bớt phân. Có thể nhốt từ 8-12 giờ. Lưu ý: trong khoảng thời gian nhốt, không nên cho cá ăn.

2. Kỹ thuật vận chuyển cá

Trong quá trình vận chuyển cá giống, tỷ lệ sống và mức độ an toàn của cá phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật vận chuyển. Trong đó các yếu tố như dụng cụ đựng cá, phương tiện vận chuyển, nhiệt độ thời tiết, lượng oxy hòa tan trong nước, khí độc trong mưa, thời gian vận chuyển…đều ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cá. Áp dụng đúng biện pháp kỹ thuật sẽ giúp nâng cao tỷ lệ sống cho cá.

Phải ngưng cho cá ăn trong 24 giờ trước khi vận chuyển, đồng thời nên tắm cho cá bằng thuốc tím 0,15ppm (từ 5-10 phút) hoặc tắm bằng dung dịch Furacin 0,05% (từ 3-5 phút).

Có hai phương pháp vận chuyển cá: vận chuyển kín và vận chuyển hở.

– Phương pháp vận chuyển kín: vận chuyển cá bằng túi nilon có bơm oxy với áp suất thích hợp.

– Phương pháp vận chuyển hở: vận chuyển cá bằng thùng phuy, thùng tôn, thùng nhựa hoặc sót nilon.

* Phương pháp vận chuyển bằng túi nilon hoặc can nhựa được xem là phương pháp tiên tiến cho hiệu quả cao, vì vậy mà được rất nhiều người áp dụng.

* Phương pháp vận chuyển kín: Thường chứa cá trong túi nilon có bơm oxy rồi vận chuyển bằng các phương tiện như xe ô tô, máy kéo, ba gác máy, ghe, thuyền…

* Đóng túi: Dùng hai túi nilon có đáy bằng, cho vào khoảng 8 lít nước biển, nước được làm lạnh ở nhiệt độ 23-250C. Nếu vận chuyển trong thời gian dưới 8 tiếng thì nên cho lượng nước chiếm 4/5 túi. Nếu vận chuyển trong thời gian trên 8 tiếng thì nên cho lượng nước chiếm 2/3 túi. Vuốt hết không khí trong túi ra, bơm oxy vào, sau đó cho cá vào, tiếp tục bơm oxy vào đến khi căng túi, buộc túi lại. Cho túi cá vào thùng xốp, đặt các bao đá xung quanh để làm mát cá. Dán kín thùng xốp bằng băng keo rồi đưa lê phương tiện vận chuyển. Nên vận chuyển cá trên phương tiện có máy điều hòa nhiệt độ.

Mật độ cá trong túi: Mật độ cá trong túi nilon tùy thuộc vào kích cỡ của cá. Cá cỡ 2,5cm, nhốt từ 100-150con/lít nước; cá cỡ 5cm, nhốt từ 30-50con/lít; cá 7cm, nhốt từ 10-15con/lít.

Lưu ý: Nên vận chuyển cá lúc trời mát, tốt nhất là vào sáng sớm. Nếu vận chuyển cá trong mùa nắng thì phải che đậy kỹ càng, không để ánh nắng trực tiếp chiếu vào túi nilon vì có thể làm tăng nhiệt độ nước trong túi và dẫn đến chết cá. Sau 8 tiếng vận chuyển phải bơm oxy. Sau 16 tiếng phải thay nước và bơm oxy. Sau 24 tiếng phải cho cá nghỉ ngơi trong vèo lưới hay trong bể từ 8-12 giờ. Muốn vận chuyển tiếp phải đóng túi lại. Tổng thời gian vận chuyển cá không nên quá 50 giờ. Khi vận chuyển cá đến nơi, thao tác mở thùng phải nhẹ nhàng nhằm tránh làm cá hoảng sợ. Trước khi thả cá, phải cân bằng nhiệt độ và độ mặn nước ao và nước trong túi cá.

II. Kỹ thuật nuôi cá mú thịt

       1. Chuẩn bị ao nuôi

       * Chọn vị trí ao

       Ao nên nằm ở vùng đất sét hay cát pha sét, tránh vùng đất phèn. Mực nước thủy triều ít nhất là 80cm. Phải có ao lắng để xử lý nước thải.

       Ao nằm ở nơi có nhiều ánh sáng mặt trời, không bị bóng cây che khuất. Ao gần nguồn nước, gần nhà để tiện theo dõi và quản lý.

       * Điều kiện ao nuôi

       – Tùy theo từng điều kiện mà chọn ao có diện tích phù hợp, có thể từ 100m2 trở lên. Ao có độ sâu từ 1,5-2m. Độ sâu mực nước ao từ 1,2-1,5m. Bờ ao cao hơn mực nước ao trong năm, khoảng 0,5m để chống ngập.

       – Cống, bọng phải được làm chắc chắn và thuận tiện cho việc cấp, thoát nước. Bờ ao phải đảm bảo không bị sạt lở, rò rỉ. Đáy ao bằng phẳng và dốc về bọng nước. Nếu có điều kiện thì trải bạt xung quanh bờ ao để ngăn cá đào hang. Bọng phải có lưới chắn để không cho cá ra ngoài cũng như không cho địch hại vào ao.

       – Nguồn nước phải gần ao để thuận tiện cho việc cấp nước. Nước phải sạch sẽ, không bị ô nhiễm và phải chủ động suốt quá trình nuôi. Yêu cầu về chất lượng nước: nhiệt độ= 25-32oC, độ mặn= 20-30‰, pH= 7,5-8,5, độ trong = 30-45cm, hàm lượng oxy hòa tan= 4-8mg/L, NH3 ≤0-0,008mg/L, độ kiềm= 60-100mg/L.

       – Thả một số ống tre hoặc ống nhựa (đường kính 10-20cm) vào ao để làm nơi cho cá ẩn nấp nhằm hạn chế cá tấn công lẫn nhau đồng thời giúp việc kiểm tra và thu hoạch cá được đễ dàng.

       * Cải tạo ao

– Tháo nước cạn ao và dọn sạch rác, bắt hết cá tạp và địch hại như: rắn, cua, ếch…Có thể diệt tạp bằng Rotenon (liều lượng 40kg/ha), bánh bã trà (liều lượng 150-200kg/ha). Vét bớt lớp bùn thối lâu ngày ở đáy ao. Tu bổ lại bờ ao, cống rãnh. San lắp các lỗ mọi rò rỉ.

          – Rải vôi bột xuống đáy ao và xung quanh ao để diệt khuẩn và điều chỉnh độ pH, liều lượng sử dụng: 10-15kg/100m2. Sau đó phơi nắng đáy ao khoảng 3-4 ngày.

– Lấy nước: Lần đầu chỉ lấy nước ở mức 0,4-0,5cm, sau đó bón phân rồi lấy đủ nước. Lưu ý: nước phải chảy qua lưới lọc để ngăn cá tạp và địch hại.

          – Bón phân cho ao: Sau khi lấy nước lần đầu, tiến hành bón phân để gây màu nước và tạo nguồn thức ăn tự nhiên. Có thể bón phân chuồng (2tấn/ ha), cách bón: rải đều phân khắp đáy ao; phân urê (25kg/ha); hoặc phân Diamonium phosphat (50kg/ha), cách bón: hòa tan phân trong nước rồi tưới đều khắp đáy ao.

       – Sau 4-5 ngày bón phân là có thể thả giống.

2. Chọn và thả cá giống        

       – Nên chọn cá giống có kích cỡ càng lớn càng tốt, từ 8-15cm. Cá giống càng lớn thì tỷ lệ hao hụt càng ít. Tốt nhất là lấy cá giống sinh sản nhân tạo ở các trại cá uy tín, hạn chế lấy cá từ nguồn khai thác tự nhiên.

       – Chọn cá giống khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng, bơi lội nhanh nhẹn, không bị say sát, không bị dị hình hay dị tật.

       – Mật độ nuôi: nên thả với mật độ thưa, khoảng 2-3con/m2.

       Cách thả cá:

       Nên thả cá lúc trời mát, tốt nhất là vào sáng sớm hoặc chiều tối. Trước khi thả cá xuống ao, nên cân bằng nhiệt độ và độ mặn. Trường hợp cá giống đựng trong bọc nilon, thì phải ngâm bọc cá trong nước ao khoảng 10-15 phút để nhiệt độ cân bằng với nhiệt độ nước ao, sau đó mới mở bọc và thả cá ra từ từ. Trường hợp cá giống đựng trong thùng hoặc can nhựa…thì trước khi cho cá vào bể, phải cho chúng qua một cái chậu lớn, từ từ thêm nước ao vào chậu để chúng thích nghi dần với điều kiện mới, sau khoảng 15 phút mới thả cá vào ao. Tuyệt đối không cho cá vào ao một cách đột ngột hoặc đứng trên bờ đổ cá xuống ao vì sẽ làm cho cá dễ bị sốc và chết.

       3. Cho ăn và chăm sóc

       a. Thức ăn

       – Nhiều người dùng thức ăn là cá rô phi: thả cá rô phi (5000-10000 con/ha) trước khi thả cá mú 1 tháng. Khi thả cá mú vào ao thì chúng có thức ăn ngay.

Cá mú thịt

       – Ngoài ra cũng có thể cho ăn bằng các loại cá tạp tươi cắt nhỏ như cá cơm, cá trích, cá nục, cá liệt…

       b. Cách cho ăn

          – Để cá dễ ăn và dễ quản lý thức ăn, nên cho thức ăn vào sàn và đặt vào nhiều vịu trí trong ao cho cá ăn, nên đặt sàn ở 4 góc ao và giữa ao, sàn cách mặt nước khoảng 0,5-0,6m.

          – Thức ăn của cá (các loại cá tạp) phải được rửa sạch, cắt thành từng miếng nhỏ vừa với cỡ miệng cá ăn.

          – Mỗi ngày cho ăn hai lần, vào buổi sáng (7 giờ) và chiều mát (17 giờ); khẩu phần ăn hằng ngày bằng 7-10% tổng trọng lượng có trong ao (cứ 100 kg cá thì cho 7-10kg thức ăn), và giảm dần theo sự tăng trọng của cá. Khi cá đạt 200g/con trở lên, thì cho ăn ngày một lần và khẩu phần ăn giảm xuống còn 5%.

          – Nên cho cá ăn đúng giờ và cho ăn từ từ.

– Định kỳ trộn Vitamin C và Premix khoáng vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng bệnh cho cá. Lượng Vitamin C và Premix chiếm khoảng 2% lượng thức ăn.

c. Chăm sóc

       – Thường xuyên theo dõi cá ăn để đánh giá được mức ăn của chúng mà điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp tránh tình trạng thiếu hoặc thừa. Thiếu thức ăn thì cá chậm lớn, thừa thức ăn thì sẽ gây ô nhiễm nước và ảnh hưởng đến sức khỏe của cá.

       – Duy trì màu xanh nước ao bằng cách định kỳ bón thêm phân chuồng. Khoảng 15 ngày bón 1 lần, liều lượng: 10-15kg/100 m2 ao.

       – Định kỳ (1 tuần 2 lần) thay nước vào ao, mỗi lần thay khoảng 20-40% lượng nước ao, tùy theo chất lượng ao. Khi thấy nước có màu xanh quá đậm, màu xám hay có mùi hôi do tảo hoặc thức ăn phân hủy thì phải thay nước ngay. Có thể dùng nước thủy triều hoặc nước bơm từ ao chứa để thay. Khi thay nước, nên xả phần nước ở đáy rồi bơm nước mới vào. Nước dẫn vào ao phải qua lưới chắn để ngăn cá tạp và địch hại.

       – Thường xuyên kiểm tra các yếu tố chất lượng nước như nhiệt độ, độ mặn, độ pH…, và phải giữ cho các chỉ số này luôn ổn định.

       – Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, nếu thấy có dấu hiệu bất thường thì phải kiểm tra ngay để xử lý kịp thời.

       – Thường xuyên kiểm tra bờ ao, cống rãnh để khắc phục kịp thời khi bị sạc lở, rò rỉ.

       – Hàng tuần lọc và phân đàn kích cỡ cá để tránh tình trạng cá lớn ăn cá bé đồng thời tăng không gian sống cho chúng.

       4. Thu hoạch

       Sau 6-10 tháng nuôi (tùy theo kích cỡ của cá giống) là có thể thu hoạch cá thịt, kích cỡ cá thường phẩm từ 0,6-1kg/con. Có thể thu tỉa những con cá lớn hoặc thu hoạch toàn bộ để lấy ao nuôi vụ khác.

       Trước khi thu hoạch 2 giờ, nên khuấy mạnh nước để tránh trường hợp cơ của cá bị cứng. Đặt một lồng lưới trong ao để giữ tạm cá. Chuẩn bị các thau, chậu máy sục khí để đựng và bảo quản cá.

       Thu hoạch toàn bộ: Tháo bớt một lượng nước ao, dùng lưới đánh bắt vài lần, sau đó tháo cạn nước và bắt toàn bộ. Nên thu hoạch vào lúc trời mát để cá ít bị mệt. Cá sau khi thu hoạch thì cho vào các dụng cụ chứa để rửa sạch bùn và xả bớt chất thải, sau đó chuyển đến nơi tiêu thụ. Khi phải nhốt cá trong các dụng cụ chứa quá lâu thì cần phải sục khí để chúng không bị ngợp.

Nguồn: Tổng hợp bởi Farmtech Vietnam.

Bạn đang xem bài viết Cá La Hán Trân Châu trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!