Xem Nhiều 2/2023 #️ ?Cách Nuôi Cá Đĩa Sinh Sản # Top 10 Trend | Fcbarcelonavn.com

Xem Nhiều 2/2023 # ?Cách Nuôi Cá Đĩa Sinh Sản # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về ?Cách Nuôi Cá Đĩa Sinh Sản mới nhất trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kỹ thuật sinh sản luôn được sự quan nhiều quan tâm của rất nhiều tín đồ nuôi cá cảnh nói chung và cá dĩa nói nói riêng.

Dạo qua một vòng trên các diễn đan chúng ta bắt gặp rất nhiều bài viết về đề tài này vì vậy tôi không có tham vọng viết bài khai sáng mà chỉ mong bổ xung nhằm làm sáng tỏ một số vấn dề xung quanh đề tài này :

Khi bắt tay vào việc đầu tiên là khâu tuyển chọn cá giống . Chọn giống nào ghép với giống nào ra cá gì sẽ là đề tài sẽ được trình bày ở phần khác . Ở đây chỉ đi sâu vào kỹ thuật cơ bản .

Chuẩn bị dụng cụ hồ bể :

– Hồ cho cá sinh sản thường có thể tích 100-120 lít nước nhằm dễ quản lý ,không chiếm nhiều diện tích . Thông thường làm hồ có kích cỡ : 0,5x 0.6 x 0,4 m – 0.5 x 0,7 x 0,4 m – 0,4 x 0,8 x 0,4 m ( Dài X, Rộng, X chiều cao ĐVị = mét ) mặt sau hay đáy hồ nên sơn hoặc dán đề can màu xanh tối hay tranh thủy sinh dể tạo cảm giác không gian yên tĩnh . Hồ nên đặt những chỗ ít người qua lại, ánh sáng tự nhiên vừa phải. Nếu không đủ ánh sáng nên bổ xung thêm trên hồ 1 bóng đèn trái ớt không màu có công suất khoảng 10 W

– Lọc nước nên bố trí lọc vi sinh ( loại tầm trung ) để sử lý nước tốt mà không gây bất tiện như các loai máy lọc ngầm hay lọc nổi .

– Bơm hơi oxy bổ xung qua cột lọc vi sinh nên có van để điều chỉnh lượng hơi cho phù hợp từng giai đoạn chăm sóc .

– Giá thể có thể là ống nước nhựa loại lớn , Viên gạch sành ốp tường hay giá thể bán sẵn đều được .

– Ống xi_phong (hút làm vệ sinh hồ) cần có thêm van vặn, kích thước ống khoảng phi 21 mm .

Chọn cá Cá giống

-Có thể mua những cặp cá đã bắt cặp hoặc đã qua sinh sản .

– Trong trường hợp có đàn cá hậu bị thì chờ chúng tách bầy đứng riêng thành từng đôi gần máy lọc hay thành hồ lựa thế bắt ra hồ sinh sản .

– Khi cá đã muốn phát dục thì cũng có thể chủ động bắt từng cặp trống mái ra riêng. Cách phân biệt trống mái là một việc tương đối khó. Bởi như tôi sau 16 năm trong nghề nếu phân biệt cá đực cá cái thông qua hình dáng quả là vấn đề hết sức khó khăn thậm chí là bất khả thi (Trừ khi nhận biết chúng đã tham gia sinh sản nhiều lần) Vậy ở đây tôi sẽ chia sẻ phương pháp nhận biết bằng màu sắc, phương pháp này thật ra không phổ biến thậm chí còn là bí quyết của những cao thủ trong làng cá dĩa.

Bình thường trên con cá dĩa ta tạm thời phân đinh như sau : tất cả hoa văn nào khi cá đến tuổi trưởng thành mà có màu phấn bạc hay phản quang dưới ánh đèn ta xem là Vân . Ngược lại với Vân tức là những phần còn lại tối hơn không phản quang gọi là Nền .

Ví dụ : điển hình nhất như cá lam đức là cá chỉ còn phần Vân không có nền , cá marlboro là cá có Nền không có Vân .

Ví dụ : Cụ thể hơn với cá bồ câu nền là phần đỏ còn phần trắng là vân , cá xanh bông phần nâu là nền phần xanh là vân.

Khi tới tuổi trưởng thành ta có thể phân biệt trống mái ( với điều kiện cá phải là anh em trong 1 bầy ) như sau : Con mái thường có màu sắc tương phản giữa Nền và Vân rõ ràng hơn con trống , chẳng hạn cá bồ câu mái có xu thế đỏ tươi con ,trống đỏ nhạt . Mặt con cá mái có màu trắng , mặt con trống thường có cùng màu với màu cơ thể , Ở cá bông xanh cá mái màu Nền nâu hay đỏ hay hoa văn đẹp rõ rằng hơn con trống. Cá Marlboro con mái màu đỏ đậm hơn ,mặt trắng .Con trống toàn thân có màu nhạt hơn (đỏ cam) …

Phương pháp cho đẻ cá .

Xử lý nước trong hồ cá đẻ sao cho pH trung bình từ 5,8- 6,2 là tốt nhất ( dụng cụ tess pH của USA dạng nước thử là tốt nhất tránh hiện tượng sai sót quá lớn )

Có thể hạ pH bằng các phương pháp thông thường sau :

Sử dụng Axit Photphoric tinh khiết .

Sử dụng nước giếng có độ pH thấp.

Lọc nước bằng than hoạt tính ( Than mới )

Cho cá ăn tim bò chế biến sẵn , vặn thật nhỏ sục khí ( Tốc độ 20 giọt khí /phút) mỗi ngày vệ sinh đáy hồ chỉ thay chừng 5 lít nước trong thời gian 1 tuần pH sẽ tự đông tuột giảm , sau khi đạt được ngưỡng thấp theo yêu cầu chúng ta trở lại thay nước 1/3 hồ mỗi ngày pH sẽ tự ổn định mà không cần phải tác động thêm . Tóm lại cách này đơn giản và có tính bền vững nhất .và tránh được tác động đôc hại khác có thể có ở 3 phương pháp đầu .

Cá đẻ trứng dính trên giá thể sau 2 ngày thì bắt đầu nở kế tiếp 2 ngày sau cá con rời giá thể bám theo cha mẹ nhằm kiếm thức ăn dạng dịch đặc tiết ra ở những tuyến đặc biệt 2 bên mình con trống mái .

Bình thường cá con đeo bám cha mẹ dến ngày thứ 8-10 thì phải cho cá con ăn dặm bằng Bobo , Artermia hay trùng chỉ làm sạch, khi gặp bầy cá con phàm ăn hay đông quá ăn sạch lớp nhớt dễ gây sự khó chịu hoặc gây tổn thương cho cá cha mẹ có thễ dẫn tới bệnh ngoài da.

Sau 14 ngày tuổi cá con đã biết ăn thức ăn ta tiến hành tách riêng ra hồ khác để nuôi lớn .

Những câu hỏi thường gặp :

Hỏi ;Có phải cá trống đầu gù hơn ?

Trả lời :Nếu con trống tham gia sinh sản nhiều lượng testosterone tăng cao nó có thể làm đầu con trống gù ra hơn con mái .Bình thường khi cá mới trưởng thành hoàn toàn không có dấu hiệu này .

Hỏi : vì sao cá mẹ cứ ăn trứng ?

Trả lời : Kiểm tra lại nước thông thường pH cao trứng không thể thụ tinh được ( biết trứng không thể nở chúng sẽ ăn như một cách dọn dẹp làm sạch môi trường.)

Hỏi : -Sao chúng lại ăn con vừa nở khi còn trên giá thể ?

-Cá con nở sao không chịu đeo bố mẹ ? Trả lời : cả 2 trường hợp trên là do nước quá cũ hay pH thấp nhiều dẫn tới tình trạng nước ô , nhiễm khuẩn, ngưỡng oxy thấp nên cá con mất sức không thể bơi theo cha mẹ , để giữ sạch nước chúng có thể ăn con .

10.806758

106.622443

Kỹ Thuật Nuôi Cá Đĩa Sinh Sản

Cá Đĩa được nhiều người nuôi cá xem như là loài cá nước ngọt tuyệt vời nhất, vốn được ca tụng là “vua của hồ cá” có một bí ẩn bao trùm lên vẻ bề ngoài xinh đẹp và hành vi thú vị của loài cá này.

Nguồn gốc

Lưu vực sông Amazone, Brazil Nam Mỹ, thuộc họ từ điêu, hiện đã được nuôi phổ biến ở Châu Á.

Hình dáng

Kích thước khoảng 10 – 15 cm, chiều cao ngang bằng với chiều dài làm cho cơ thể có dạng giống như đĩa tròn. Miệng nhỏ, mắt to và thường có màu đỏ hoặc vàng. Con đực thường có kích thước to hơn con cái.

Đặc điểm

Cá cần không gian rộng để bơi lội, thích hợp với những nơi yên tĩnh, hay giật mình sợ hãi khi thấy bóng người. Thích sống nơi nước sạch có PH thấp từ 5 – 7, nhiệt độ từ 26 – 32 o C.

Cá Đĩa là loài thiên về thức ăn động vật như: trùn chỉ, bo bo, lăng quăng, tim, gan, thịt bò xay nhuyễn…hoặc các loại thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm cao hơn 30%.

Sinh sản

Cá đực: hình dáng to, đầu hơi gù, vây bụng xệ, dưới bụng vùng giáp vây lõm vào trông rất rõ, hoạt động hung hăng hơn cá cái.

Cá cái: thường nhỏ hơn cá đực gai sinh dục lồi ra ngắn , chia 2 thùy nhọn và hơi cong về phía sau.

Cá có thể sinh sản sau 12-18 tháng tuổi. Khi trưởng thành chúng sẽ tự bắt cặp với nhau, tách đàn bơi riêng về một góc. Cá đĩa khó sinh sản nhân tạo, bể sinh sản nhân tạo nên có PH hơi chua(PH=5,5-6).

Giai đoạn bắt cặp xảy ra trong thời kỳ sinh sản, cặp cá sẽ tự tách ra một góc bể, dùng miệng làm sạch nơi sẽ sinh đẻ. Đôi cá này thường kề sát miệng, quẫy mạnh đuôi, đuổi bắt nhau, xua đuổi những con khác lại gần chúng. Tiếp đó chúng bơi sóng đôi, quấn quít bên nhau. Trước khi đẻ một vài ngày, cá có hiện tượng rùng mình, rung toàn thân, xếp vây lại, đôi lúc đứng yên tại chỗ, ít bắt mồi. Khi sinh cá chúc đầu xuống 45 độ, lúc này gai sinh dục lộ rõ, màu sắc rực rỡ hẳn lên. Cá cái đẻ trứng theo chiều dọc giá thể, từ dưới lên, cá đực cũng theo lộ trình đó tiết tinh để thụ tinh cho trứng. Số trứng đẻ ra của cá cái tham gia lần sinh sản đầu tiên thường 70-80 đến 150, có khi nhiều hơn.

Trứng đựơc thụ tinh có màu trong suốt. trứng không thụ tinh thì vẩn đục. Sau 24 giờ, trứng thụ tinh chuyển sang màu trắng xám. Ở 30 o C trứng nở trong vòng 55-57 giờ. Trong lúc này cá bố và cá mẹ thay phiên nhau quạt nước cho trứng để có đủ độ thoáng khí. Tỉ lệ trứng nở: 60-90%. Nên cho cá đẻ nơi yên tĩnh (quây, che bể cá lại).

Ương cá bột: Sau khi trứng nở thành cá bột, cá bố mẹ dìu cá con đến một địa điểm khác. Nhờ sợi nhờn ở đầu, cá con bám vào thành bể hoặc một giá thể. Cá con chưa bơi lội được và sống nhờ chất dự trữ ở túi noãn hoàng dưới bụng. Con nào bị rớt sẽ được cá bố mẹ mang về chỗ cũ.

Sau 60 giờ, cá con có thể bơi lội thành đàn quanh cá bố mẹ. Cá con sống nhờ ăn chất nhờn tiết ra từ mình cá bố mẹ trong vòng 12-15 ngày. Sau đó, cá con bắt đầu ăn được các sinh vật nhỏ trong nước. Khoảng 18 ngày, cá con ăn được thức ăn nhân tạo. Sau 21 ngày chúng có thể tự đi tìm thức ăn.

Cá mới nở dài khoảng 1,2-2mm; sau 1 tuần cá dài 3mm. Khoảng 2 tuần tuổi, cá dài 1cm, thân có sọc thẳng, mắt màu nâu xám. Khi được 18 ngày, cá dài 1,5cm, vây lưng và vây bụng màu đen, lên màu. Khoảng 5-6 tuần, cá dài khoảng 2-2,5cm, có hình dạng như cá trưởng thành, nhưng chưa rõ màu sắc. Sau 3 tháng, cá dài 6-7cm và màu sắc thể hiện rõ, nhưng phải đến tháng thứ 5-6, cá mới có màu sắc sặc sỡ của cá trưởng thành.

Trong thời gian đầu, từ ngày thứ 7, nên cho cá ăn bo bo (Moina) non (nhỏ), bọ một mắt (Cyclops) non, ngày vài lần, tránh cho ăn quá no. Thức ăn nên phân bố đều trong toàn bể, tránh cá lớn tranh ăn. Tiếp đó cho đến 2 tháng rưỡi, nên cho cá ăn rận nước (Daphnia). Cá 3-4 tháng cho ăn thêm lăng quăng, trùn chỉ. Sau đó cho ăn thêm ròng ròng, bảy màu nhỏ.

Trong vài tuần đầu, nên giữ nhiệt độ nước 29-30 o C. Có ánh sáng khoảng 18 giờ. Nhưng không nên dùng ánh sáng quá chói chang.

Cách Nuôi Cá Kiếm Sinh Sản Nhanh

Cá kiếm còn có tên gọi khác là cá đuôi kiếm, cá hồng kim là loại cá dễ nuôi và sinh sản, sau đây mình xin giới thiệu kỹ thuật nuôi, cách nuôi cá đuôi kiếm sinh sản các bạn có thể tham khảo.

Cách nuôi cá kiếm sinh sản

Thông tin chung cá đuôi kiếm

Cá kiếm được tìm thấy lần đầu tiên ở Áo bởi nhà động vật học Johann Jakob Heckel. Nó thuộc họ cá khổng tước thuộc bộ cá chép. Tên loài ‘helleri’ được đặt tên theo nhà thực vật học người Áo Karl Bartholomaeus Heller (1824-1880) đã thu thập các mẫu vật loại.

Tên chi Xiphophorus theo tiếng tiếng Hy Lạp ‘xiphos’ có nghĩa là thanh kiếm và ‘pherein’ Hy Lạp có nghĩa là để thực hiện. Có tên khoa học khác là Xiphophorus guntheri Jordan & Evermann, 1896; Xiphophorus jalapae Meek, 1902; Xiphophorus brevis Regan, 1907; Xiphophorus strigatus Regan, 1907; Xiphophorus rachovii Regan, 1911. Nó không được liệt kê trong sách đỏ IUCN như các loài bị đe dọa.

Cá đuôi kiếm là một trong những loài cá cảnh nhiệt đới phổ biến nhất. Nó cũng được gọi là cá hoàng kim, cá đốm. Nó có nguồn gốc ở đông nam Mexico. Sống ở các sông, suối, suối nước nóng, kênh rạch, ao hồ với các khu vực đông sinh dưỡng. Những chú cá trưởng thành thích tụ tập ở những vùng nước trong và sâu, trong khi cá con lại thích vùng yên tĩnh.

Cá kiếm có một cơ thể thon dài với mõm cùn. Cơ thể có màu ô liu trong suốt kết hợp với sọc màu đỏ, màu vàng hoặc nâu dọc theo đường bên. Vây lưng là một màu vàng-xanh trong kết hợp với một hoặc nhiều hàng chấm màu đỏ và đôi khi có đốm ở phần đuôi. Vây lưng có từ 11-14 tia mềm trong khi vây hậu môn có 4-10 tia mềm. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra cá đuôi kiếm đực bởi thanh kiếm dài rũ từ thùy bụng ở vây đuôi trong khi cá cái có vây hậu môn thường được mở rộng và thiếu thanh kiếm ở vây đuôi. Cá kiếm đực có ‘thanh gươm’ là màu vàng với viền đen cạnh bên dưới. Trong thời gian trưởng thành vây ở phần hậu môn của cá đực biến đổi thành cơ quan giao phối hẹp.

Cá kiếm cái lớn hơn cá đực với cơ thể mạnh mẽ chiều dài có thể đạt đến 16 cm, trong khi cá đực có phần nhỏ hơn và chỉ có thể phát triển chiều dài cơ thể lên 14 cm.

Loài này có xu hướng trải qua chuyển đổi giới tính trong điều kiện môi trường nhất định. Nó có thể sống tới 5 năm hoặc nhiều hơn với việc chăm sóc thích hợp.

Tóm tắt lại :

– Tên khoa học: Xiphophorus hellerii Heckel, 1848

– Bộ: Cyprinodontiformes (bộ cá sóc)

– Họ: Poeciliidae (họ cá khổng tước)

– Tên tiếng Việt khác: Hồng kiếm; Đuôi kiếm; Cá Song Kiếm, Cá Song Kiếm Mắt Đỏ

– Tên tiếng Anh khác: Red swordtail; Green swordtail.

– Nguồn gốc: Cá nhập nội từ thập niên 50, hiện đã sản xuất giống phổ biến trong nước

Đuôi của cá kiếm ko có ý nghĩa như 1 vũ khí mà chỉ là vật dùng để trang trí và là đặc điểm nổi bật để con cái chọn lựa con đực, những con cái thường lựa chọn con đực có chiếc kiếm to, mầu sặc sỡ cho việc giao phối.

Trong tự nhiên cá kiếm sinh sống ở một số vùng châu Mỹ và châu Phi, những nơi có nguồn nước ngọt hơi có tình kiềm một chút (pH: 7,0 – 8,3)

Cá kiếm có màu đỏ dài gần gấp 3 lần cá hòa lan khi trưởng thành tính luôn chiều dài đuôi có thể đạt 12 – 16 cm. Cá kiếm thích hợp nuôi trong bể trồng nhiều cây thủy sinh và có không gian rộng vì cá hoạt động tích cực.

Kỹ thuật nuôi và chăm sóc cá đuôi kiếm cơ bản

– Thể tích bể nuôi (L): 100 (L)

– Yêu cầu lọc nước: Trung bình

– Yêu cầu sục khí: Trung bình

– Nước: Hồ nuôi bằng nước mưa thì rất tốt cho cá (nước mưa đã được để lâu). Trường hợp nuôi cá bằng nước máy thì ngâm độ 2 ngày để nước giảm lượng Clo.

Nuôi ghép với các loại cá cảnh thủy sinh khác

Cá đuôi kiếm không gây sự đánh nhau với các loại cá thủy sinh khác tuy nhiên những con cá đuôi kiếm đực thường hay đánh nhau để giành cá mái, bạn có thể giải quyết bằng cách nuôi khoảng 4 con đực trong hồ thủy sinh rộng chung với khoảng trên 5 con cá mái là OK.

Cá kiếm, là loài dễ nuôi và hiền, có thể nuôi chung với các cá cảnh khòa như phượng hòang, tứ vân, cánh buồm, thần tiên, hắc kim…

Thiết kế bể cá cảnh nuôi cá kiếm

– Các đuôi kiếm là loài cá khỏe mạnh và khá dễ nuôi cá phù hợp nuôi trong bể cá thủy sinh có nhiều loài. Nó dễ chăm sóc và đòi hỏi nhiều không gian cho việc bơi lội. Bể nuôi nên thông thoáng giàu oxy, độ kiềm phù hợp kết hợp bộ lọc mạnh để duy trì nồng độ oxy cao. Nước nên cứng vừa phải cần dao động từ 15-30 dGH. Cá đuôi kiếm là loài cá thích hoạt động có khả năng nhảy xa nên bể phải được che chắn bằng nắp thích hợp để ngăn cá nhảy ra ngoài. Bể cá cũng cần thay nước thường xuyên là 25% lượng nước trong bể từ 2 -4 tuần. Được xem là loài cá có tính hiền lành có thể sống chung với nhiều loài cá khác. Nhưng trong thời gian giao phối con đực có thể hung hăng thậm chí đánh nhau nhau để tranh giành cá cái khi trong bể có nhiều hơn một chú cá cái.

Cá kiếm là cá loài cá dễ chịu nó có thể sống trong các hồ cá nhà bạn mà không cần quan tâm đặc biệt

– Thể tích bể nuôi (L): 100 (L)

– Thiết kế bể: Bể trồng nhiều cây thủy sinh và có không gian rộng vì cá hoạt động tích cực. Cá đực thường hay đánh nhau. Cá cũng thích hợp trong bể nuôi chung.

– Bể nuôi: Chỉ cần có lu, hủ vừa hay hồ kiếng nhỏ là có thể nuôi một căp cá. Trường hợp ta nuôi nhiều khỏang 5-6 cặp trở lên và cho sinh sản, thì thường hồ dài 0.8m, rộng 0.5, cao 0.5m là thích hợp, chỉ sau vài tháng nuôi là có một hồ đầy ắp cá hồng kim. Còn nuôi ít cặp có thể xây bể có chiều cao hơn vì cá kiếm rất lanh và phóng rất tài.

– Nước nuôi cá kiếm : Nhiệt độ nước (C): 18 – 28, độ cứng nước (dH): 9 – 25, pH: 7,0 – 8,3.

Chăm sóc cá và cho ăn

– Thả rong, bèo: Hồ cá nhỏ thì thả rong hoặc một, hai cọng bèo cái, nó là cỏ thủy sinh, sinh sản rất nhanh. Hồ cá lớn thì thả nhiều hơn, hay thả lục bình (Bèo Nhật Bản, bèo tây) để che nắng, che mưa và cũng là thức ăn cho cá.

– Trị bệnh cá kiếm: Cá kiếm rất khỏe, dễ nuôi, ít bệnh, cá ưa môi trường nước hơi cứng và kiềm. Ở môi trường nước mềm và axít cá dễ bị bệnh thối đuôi và nấm, khi cá bệnh (tức nguồn nước ô nhiễm rất nặng làm tăng tính axit của nước), lúc này bạn cần thay nước (nước mới đã để ngoài không khí 3 ngày) và cho một ít muối vào bể, cá sẽ tự khỏi bệnh.

– Về thức ăn: Cá đuôi kiếm là loài ăn tạp và thức ăn ngoài tự nhiên của nó bao gồm các nguồn thực vật, sâu, động vật giáp xác, giun, côn trùng cùng với thực vật phù du và một số tảo vĩ mô. Trong điều kiện nuôi nhốt nó thường ăn tất cả các loại thực phẩm tươi sống, đông lạnh . Nó cần được cung cấp nguồn thức ăn cân bằng, chế độ ăn uống có chất lượng tốt kết hợp sản phẩm tươi và khô cùng với những thức ăn sống và ấu trùng chironomid. Cá đuôi kiếm không phải là một loại cá kén ăn nhưng nó cần được cho ăn một chế độ ăn đa dạng nhiều lần hàng ngày với một lượng nhỏ.

– Ngòai ra, ta có thể cho cá ăn bánh mì, lấy phần ruột của ổ bánh mì đem phơi nắng ,sau đó ta bóp nhuyễn cho cá ăn ,cá rất phát triển, tránh cho ăn quá nhiều mà thối nước. Kích cỡ trung bình của cá khoảng ngón tay út người lớn, nếu nuôi tốt lâu năm cá lớn khoảng 3 – 3.5cm.

– Cho sinh sản: Cá hồng kim không sinh sản trứng rồi nở như cá lia thia, mà sinh sản trực tiếp ra cá con. Thường cá thích đẻ vào ban đêm, đợt đầu tiên cá sinh sản khoảng 12-13 con, các đợt sau vài chục con, cá con được sinh ra màu vàng bơi lội khắp hồ. Hai, ba ngày đầu không cho cá ăn vẫn sống ,thức ăn cho cá con là trứng nước hoặc bánh mì phơi khô đều tốt.

Phân biệt giới tính cá kiếm

Cá kiếm đẻ con và sinh sản rất nhanh

– Quá trình sinh sản: cá đẻ tự nhiên, tập tính đẻ theo đàn. Chọn 2 con cái khoẻ mạnh và 1 con đực to khoẻ, cho chúng vào hồ nuôi chung.

– Thức ăn cho cá bố mẹ: trùng chỉ, cá con và thức ăn chế biến sẵn, cá con là bo bo, actemia.

– Cơ thể cá cái hoàn thiện và phát dục sau tám đến mười hai tháng. Cá cái có thể đẻ 20-200 cá con sau một thời gian mang thai từ 24 đến 30 ngày. . Cá trưởng thành hay cá cha mẹ có thể ăn thịt cá con khi chúng đói nên bạn nên tách cá con qua một bể nuôi khác. Cá con trưởng thành sau khoảng 8 đến 12 tháng. Từ thời điểm thụ tinh trứng phải mất khoảng bốn tuần để cá con phát triển đầy đủ trong bụng cá mẹ.

– Cá con mới đẻ trông giống nhưng nhỏ hơn cá con của cá bình tích và biết bơi ngay lập tức nên rất dễ sống sót nếu trong hồ có nhiều rong cho chúng ẩn náu. Một điều quan trọng bạn cần hạn chế cho chúng đẻ bằng cách tách cá trống và mái nuôi riêng, bể của bạn sẽ chỉ toàn cá kiếm nếu bạn không biết thực hiện kế hoạch hóa sinh sản cho chúng.

– Các hồ cá nên được trồng thảm thực vật sống hoặc nhân tạo để có nơi cho cá con ẩn nấp. Cá con đòi hỏi một chế độ ăn giàu protein và cần được cung cấp thức ăn tươi sống như tôm tươi hoặc tôm con ngâm nước muối lạnh. Nên cho ăn thường xuyên và đủ để đảm bảo rằng tất cả cá con đều có thể phát triển tốt. Thay nước và làm sạch các bể thường xuyên để tránh sự tích tụ các độc tố gây chết cá như ammoniac và nitrit.

Giá tiền cá kiếm

Các đuôi kiếm là loài cá cực kỳ khỏe mạnh và rất phổ biến mà có thể thích ứng với một loạt các điều kiện nước. Nó là loài cá tuyệt đẹp và duyên dáng cho bất kỳ bể nuôi cá nào. Loại cá này là một trong những loài cá cảnh dễ nhận biết nhất trên thế giới và phổ biến trong hoạt động buôn bán cá cảnh. Nó thường có sẵn trong các cửa hàng vật nuôi trực tuyến với mức giá vừa phải. Hoặc bạn cũng có thể tới cửa hàng cá cảnh gần khu bạn sống nhất và rất dễ dàng để mua được giống cá này với giá cực rẻ

– Giá trung bình (VND/con): 2500

– Giá cá hồng kim rẻ thích hợp với túi tiền người bình dân (giá khoảnng từ 1500-3000đ, ngay tại đường Nguyễn Thông, TP. HCM bán nhiều cá cảnh, tôi mua chỉ với 2000-2500đ). Cá được làm cảnh và có thể nuôi để diệt trừ lăng quăng, góp phần phòng chống được bệnh sốt xuất huyết hiện nay ở nước ta.

– Mức độ ưa chuộng: Trung bình

Cách Nuôi Bọ Ngựa Nhanh Lớn, Sinh Sản Tốt

Tìm hiểu về loại bọ ngựa

Bọ ngựa xuất hiện trong tự nhiên cách đây khoảng 20 triệu năm về trước. Đây là loài côn trùng cỡ lớn, kích thước dài từ 40 – 80 mm, có hai cánh trước và sau phát triển rộng. Hai cánh sau của bọ ngựa trông như tấm kính. Thường cánh bọ ngựa có màu xanh lá cây hoặc màu nâu nhạt.Trên phần ngực của bọ ngựa xuất hiện đốt ngực dạng ống kéo dài từ đỉnh đầu xuống phần bụng. Song đó phía trong các xương chậu cỉa đôi chân trước xuất hiện 1 chấm đen. Thường đôi chân trước có dạng lưỡi kiếm, bờ trong chân có răng dùng để săng bắt con mồi và chiến đấu với kẻ thù.Thường kích thước con cái lớn hơn con đực. Màu sắc của bọ ngựa vốn thay đổi theo màu của nơi ở, màu thường thấy nhất của bọ ngựa chính là màu xanh lá cây, màu cỏ úa hoặc màu vàng, nâu.Phần đầu của bọ ngựa có thể xoay 300 độ, điều này cho thấy chúng có tầm nhìn rộng mà không cần di chuyển cơ thể. Việc săn bắt con mồi của bọ ngựa, chủ yếu dựa vào tầm nhìn. Thời gian săn bắt con mồi tốt nhất của ngọ ngựa chính là ban ngày, nhất là lúc thời tiết mát mẻ, những nơi nhiều cây cối.

Cách nuôi bọ ngựa nhanh lớn, sinh sản tốt

Những món ăn từ bọ ngựa được xem là đặc sản một vùng. Ngày xưa nguồn bọ ngựa chủ yếu do săn bắt trong tự nhiên mà có. Nhưng trên thực tế lượng hàng ngày càng khan hiếm, vì thế nhiều người mạnh dạn đầu tư mô hình chăn nuôi bọ ngựa nhằm cải thiện kinh tế.

Vốn bọ ngựa là loài côn trùng có lợi giúp bà con nông dân tiêu diệt sâu bọ, các loài ấu trùng gây hại cho mùa màng, hoa quả. Nếu việc săn bắt trong tự nhiên ngày càng lạm dụng sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường thiên nhiên lẫn hoạt động sản xuất nông nghiệp của bà chúng tôi đó nhiều người chủ động trong mô hình chăn nuôi bọ ngựa tại nhà. Những năm gần đây, cách nuôi bọ ngựa ngày càng mở rộng đem lại hiệu quả kinh tế cao giúp bà con thoát nghèo, cải thiện cuộc sống.

1. Chọn giống nuôi

Khi chọn con giống để nuôi, bạn nên chọn bọ ngựa khỏe mạnh, bay nhảy tốt. Dáng đứng cân đối, tránh bị dị tật. Thường kích thước bọ ngựa cái sẽ lớn hơn bọ ngựa đực, con cái từ 46 mm – 78mm, con đực từ 40 mm – 60 mm. Lưu ý: Bọ ngựa vốn là côn trùng tham ăn, chúng có thể ăn thịt lẫn nhau mỗi khi đói. Người nuôi cần chú ý vấn đề này trong kỹ thuật nuôi bọ ngựa.

2. Chuồng trại nuôi bọ ngựa

Khi nuôi bọ ngựa, bạn cần rào chán xung quanh cẩn thận. Hãy sử dụng lưới rào có kích thước 1m x 1m x 1m, tránh chọn những tấm lưới lỗ rỗng thưa kẻo bọ ngựa bay hết.Song đó phía trên chuồng nuôi cần sử dụng thêm màm che kín lai, điều này giúp bọ ngựa tránh ánh nắng trực tiếp lẫn tránh sự hao hụt khi chúng thoát khỏi lồng nuôi.Đặc biệt phía dưới chuồng nuôi cần trang bị thêm một lớp đât xốp dày tầm 5 – 7cm. Bên trong chuồng nuôi cần trang bị thêm cành cây hoặc làm tổ để bọ ngựa trú ẩn hoặc làm chỗ đậu mỗi khi bay nhảy mệt.

3. Thức ăn cho bọ ngựa

Trong tự nhiên, bọ ngựa là kẻ săn mồi đáng sợ, chúng có thể ăn bất cư thứ gì mà chúng có thể ăn đặc biệt. Tuy nhiên đa phần bọ ngựa thích ăn nhất là những côn trùng nhỏ như ruồi, muỗi, sâu bọ, con ong, bọ cánh cứng hoặc gián. Khi môi trường thiếu thức ăn trầm trọng, bọ ngựa có thể sát hại và ăn thịt chính đồng đội của mình.

Khi săn bắt con mồi, bọ ngựa sử dụng đôi chân trước có gai để nắm và giữ chặt con môi. Để giết chết con môi, bọ ngựa dùng đôi chân siết chặt con mồi khỏe mạnh rồi từ từ nuốt con mồi một cách thuần tục. Một số bọ ngựa lớn có thể ăn những con mồi lớn hơn cả kích thước bọ ngựa như cá, nhện, chim, thậm chí cả rắn.

Với những người chăn nuôi bọ ngựa trong chuồng thì thức ăn mà mọi người lựa chọn là ruồi giấm, bọ gạo, sâu tơ nhỏ hoặc ấu trùng ruồi hoặc là sâu caxi.

4. Cách sinh sản của bọ ngựa

Một con bọ ngựa cái thường đẻ từ 200 – 300 trứng. Thời điểm bọ ngựa sinh sản mạnh nhất là mùa thu trong năm. Sau khi giao phối với bọ ngựa đực, bọ ngựa cái sẽ giết và ăn thịt bọ ngựa đực để cung cấp chất dinh dưỡng, tăng thêm số lượng trứng bọ ngựa.

Sau khi hoàn thành việc đẻ trứng, bọ ngựa gắn túi trứng dưới lá cây hoặc cành cây. Túi trứng này sẽ ấp ủ qua mùa đông và trứng nở vào đầu mùa xuân, 1 số lại nở vào đầu mùa hè.

Ấu trùng của bọ ngựa mới nở có chiều dài tầm 4mm. Ấu trùng này cần nhiều thời gian để hình thành một bọ ngựa trưởng thành. Trong thời gian này, ấu trùng cần cung cấp rất nhiều thức ăn, đồng thời trải qua ít nhất 4 lần lột da mới trở thành 1 con bọ ngựa trưởng thành.

Cần lưu ý khi nuôi bọ ngựa

– Thức ăn của bọ ngựa chủ yếu là sâu canxi, ruồi giấm, bọ gạo,… bên cạnh thức ăn cần cung cấp lượng nước vừa đủ.

– Bên trong lồng nuôi bọ ngựa cần trang bị thêm cành cây hoặc chỗ ẩn nấp để bọ ngựa đậu mỗi khi bay nhảy mệt.

– Dưới chuồng nuôi cần bổ sung một lớp đất xốp giúp bọ ngựa gần với thiên nhiên, tăng tuổi thọ, nhanh lớn và sinh sản tốt.

Bạn đang xem bài viết ?Cách Nuôi Cá Đĩa Sinh Sản trên website Fcbarcelonavn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!